Thị trường tài chính giống như các buổi đấu giá, nơi mà người mua và người bán gặp gỡ, thương lượng với nhau.
Thuyết đấu giá là gì?
Lý thuyết Thị trường Đấu giá là một mô hình giải thích cách thị trường tài chính hoạt động như một cuộc đấu giá liên tục, nơi người mua và người bán thương lượng để tìm ra mức giá hợp lý.
J. Peter Steidlmayer là người đầu tiên ứng dụng lý thuyết đấu giá vào giao dịch thông qua Market Profile.
Sau đó, Jim Dalton đã phát triển phương pháp này qua các nghiên cứu sâu hơn về hành vi thị trường.
Sự hiệu quả của thị trường
Trong phần trước, chúng ta đã học về Quy luật cung – cầu và biết đến vùng cân bằng.
Khi giá đạt đến vùng cân bằng là lúc thị trường đạt hiệu quả, và khi giá rơi vào vùng mất cân bằng là lúc thị trường không đạt hiệu quả.

Thị trường hiệu quả
Quá trình trả giá diễn ra giữa các bên tham gia khiến cho giá vận động để tìm đến vùng cân bằng.
Vùng giá cân bằng được nhìn thấy là một phạm vi mà giá đảo chiều liên tục mỗi khi chạm đến biên của khu vực đó, tạo thành một giai đoạn phát triển theo chiều ngang.
Trong phạm vi đó, người mua và người bán cảm thấy thoải mái giao dịch và không xuất hiện quyền kiểm soát rõ ràng từ một phe nào.
→ Lúc này thị trường đang đạt được sự hiệu quả.
Người mua cảm thấy mình mua được giá rẻ và người bán nghĩ rằng mình bán được giá đắt.
Thị trường không hiệu quả
Vào một thời điểm nào đó, khi có những thông tin (tốt hoặc xấu) được tung ra khiến cho người mua và người bán cảm thấy mức giá trong phạm vi đó không còn hiệu quả, họ sẽ nảy sinh bất đồng.
Một trong hai phe sẽ nắm quyền kiểm soát và đẩy giá ra khỏi vùng cân bằng trước đó. Đây là giai đoạn giá phát triển theo chiều dọc.
Trên biểu đồ, vùng giá mất cân bằng là một xu hướng tăng/giảm rõ ràng sau khi giá phá qua vùng cân bằng, tạo thành kênh giá tăng/giảm.
→ Lúc này thị trường đang kém hiệu quả.
Giá sẽ tiếp tục di chuyển trong vùng mất cân bằng (là một xu hướng tăng hoặc giảm) thông qua sự kiểm soát của phe mua hoặc phe bán, cho đến khi họ tìm được “tiếng nói chung”.
Lúc này cả hai phe đã có sự tương đồng về giá, khiến thị trường rơi vào một vùng cân bằng mới.
Giá liên tục đi từ vùng cân bằng này đến một vùng cân bằng khác, tạo ra một chu kỳ thị trường đầy đủ mà ta đã học trong phần 1.
Phần lớn thời gian giá nằm trong vùng cân bằng, khoảng 80% đi ngang và 20% có xu hướng.
Vùng cân bằng chính là nơi giá tích luỹ hoặc phân phối mà phương pháp luận Wyckoff tập trung khai thác.
Ví dụ về thuyết đấu giá:
Trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu của Tesla đang giao dịch ở mức $500.
Sau khi có thông tin xe tự lái Tesla gây ra tai nạn, giá cổ phiếu giảm do nhà đầu tư mất niềm tin.
Cổ phiếu tiếp tục giảm cho đến khi người mua thấy hài lòng ở mức $300 và mua vào, giá tạo một vùng cân bằng mới.
Sau một thời gian, các lỗi của xe tự lái được khắc phục, cổ phiếu của Tesla tăng trở lại vùng cân bằng cũ quanh $500.
Chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích thuyết đấu giá trên biểu đồ dựa trên công cụ Volume Profile ở các bài viết sau!
Giá trị tài sản
Khi thị trường đạt sự hiệu quả, người tham gia đấu giá đang chấp nhận giá trị của tài sản tại vùng cân bằng đó.
Chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích các yếu tố tạo thành giá trị của tài sản, bao gồm: giá, thời gian và khối lượng.
Giá trị = Giá + Thời gian + Khối lượng
Giá
Giá giống như một công cụ dò tìm. Nó luôn luôn di chuyển để thăm dò mức độ phản ứng của những người tham gia thị trường.
- Nếu những người tham gia cảm thấy mức giá đã hợp lý, họ sẽ tham gia giao dịch.
- Nếu mức giá tìm thấy không hấp dẫn những người giam gia, họ sẽ từ chối giao dịch và giá sẽ di chuyển đến một vùng khác có sức hấp dẫn hơn.
Thời gian
Ở vùng giá mà người tham gia cảm thấy hợp lý để giao dịch, giá sẽ dành nhiều thời gian ở lại đó.
- Vùng giá càng hiệu quả, người tham gia càng muốn ở lại giao dịch lâu hơn.
- Vùng giá kém hiệu quả sẽ khiến họ tham gia với thời gian ngắn hơn.
Mức độ hấp dẫn của phạm vi giao dịch tỷ lệ thuận với thời gian tồn tại của nó.
Giá càng ở lại phạm vi lâu, thì sau khi thoát ra khỏi phạm vi giá sẽ đi càng xa (xem lại Quy luật nguyên nhân – kết quả).
Khối lượng
Khối lượng giao dịch đại diện cho nỗ lực của mức giá đó, thể hiện sự quan tâm của người tham gia đấu giá.
Những vùng giá có volume cao nghĩa là vùng giá đó được đánh giá cao bởi những người tham gia thị trường và ngược lại.
Ba biến số giá, thời gian và khối lượng có thể thay đổi làm giá trị của tài sản sẽ thay đổi theo. Do đó nhà giao dịch cần đánh giá chúng liên tục để tìm ra mức giá trị hợp lý.
Sự thay đổi giá trị

Diễn giải hình 3:
- Khi giá đang trong trạng thái phát triển theo chiều ngang (cân bằng), giá cả và giá trị trùng khớp.
- Khi giá thoát khỏi vùng cân bằng và chuyển sang trạng thái phát triển theo chiều dọc (mất cân bằng), giá cả và giá trị đang chênh lệch.
- Giá đi trước, giá trị chấp nhận theo sau (chấp nhận giá trị).
- Giá đi trước, giá trị không đi theo (từ chối giá trị), khiến giá quay trở lại vùng cân bằng trước đó.
Ở trạng thái cân bằng, mức giá cân bằng nhất sẽ nằm ở giữa hai biên trên và dưới của cấu trúc.
Khi giá chạm lên biên trên, người mua cảm thấy đắt không muốn mua và khi giá chạm xuống biên dưới, người bán cảm thấy rẻ không muốn bán.
Do đó 2 vùng cực trị thể hiện mức giá không công bằng khiến giá có xu hướng muốn quay đầu.
Ở trạng thái mất cân bằng, trong ba biến số thì GIÁ là biến số đi trước để xác định khu vực cân bằng tiềm năng. Việc chấp nhận hay từ chối giá trị phụ thuộc vào hai biến còn lại là THỜI GIAN và KHỐI LƯỢNG.
Sau khi biến giá tìm thấy vùng cân bằng mới, biểu hiện của sự chấp nhận giá trị là:
- Giá được giữ vững trong một phạm vi (biến thời gian)
- Phe mua và phe bán bắt đầu giao dịch (biến khối lượng).
Áp dụng thuyết đấu giá vào Wyckoff
Steidlmayer đã chia thị trường thành bốn phase như sau:

- 1. Pha xu hướng: Giá đang phát triển theo chiều dọc, cung – cầu mất cân bằng.
- 2. Pha dừng xu hướng: Xuất hiện các nhà giao dịch ở phe đối lập chặn xu hướng lại, hình thành biên trên và biên dưới của phạm vi giao dịch.
- 3. Pha đi ngang: Giá phát triển theo chiều ngang, dao động trong vùng cân bằng mới hình thành.
- 4. Pha chuyển đổi: Giá di chuyển ra ngoài vùng cân bằng và đi tìm vùng giá trị mới.
Khi phase 4 kết thúc, thị trường lại ở vị trí bắt đầu của cấu trúc mới.
Điều này lặp đi lặp lại không gián đoạn, tại mọi khung thời gian.
Bốn pha của Steidlmayer tương đồng với cấu trúc 5 pha của Wyckoff.
Wyckoff là người đã đi sâu vào việc phân tích kỹ thuật có cùng ý tưởng với các lý thuyết Thị trường Đấu giá, ngay cả khi ông không biết đến các khái niệm này.
Ông đã chia cấu trúc thành 5 phase từ A đến E như sau:

- Phase |A|: Dừng xu hướng trước đó.
- Phase |B|: Xây dựng nguyên nhân.
- Phase |C|: Kiểm tra.
- Phase |D|: Bắt đầu thay đổi xu hướng.
- Phase |E|: Phát triển xu hướng.
Từ các phần sau, chúng ta sẽ đi sâu vào năm giai đoạn này cùng với các cấu trúc của Wyckoff.
Thuyết đấu giá và ba quy luật Wyckoff sẽ là nền tảng quan trọng mà bất kỳ nhà đầu tư nào theo phương pháp luận Wyckoff cũng bắt buộc phải nắm vững.



