Wyckoff Phần 7: Giai đoạn phân phối

Wyckoff

Giai đoạn phân phối Wyckoff là gì?

Phân phối (Distribution) trong Wyckoff là quá trình chuyển giao lượng hàng từ CO – một người nắm giữ lượng lớn nguồn cung trong giai đoạn Tích luỹ, sang cho công chúng tại các vùng đỉnh của giai đoạn Phân phối.

Cách hình thành giai đoạn phân phối
Hình 1: Cách hình thành giai đoạn phân phối

Quy trình như sau:

  1. Tại giai đoạn tích luỹ, CO đã gom đủ lượng hàng từ công chúng và khi không còn ai bán, giá tăng một cách dễ dàng.
  2. Khi giá đang trong một xu hướng tăng, xuất hiện các áp lực chốt lời và CO dừng lại để thực hiện việc củng cố vị thế của mình. Đó là giai đoạn tái tích luỹ.
  3. Họ gom lại các nguồn cung đang được bán ra từ công chúng, khi không còn người bán, giá lại tăng lên một cách dễ dàng.
  4. Đến một thời điểm, giá chạy đạt đủ target (theo PnF), có thể nhìn thấy bằng một sự quá mua. Tại đây, CO lên kế hoạch chốt lời một cách thận trọng.
  5. Họ bán lượng hàng mà mình nắm giữ ra cho công chúng một cách lén lút tại các vùng đỉnh của cấu trúc. Việc bán hàng này cần nhiều kỹ năng sao cho giá không bị giảm cho đến khi CO phân phối hết hàng.

Cấu trúc phân phối Wyckoff

Chúng ta đã nghiên cứu về xu hướng tăng trong phần 6: Giai đoạn Tái tích luỹ.

Về cơ bản sự khởi đầu của cấu trúc phân phối không khác gì với cấu trúc Tái tích luỹ, đều bắt nguồn từ sự dừng xu hướng tăng.

Có hai dạng cấu trúc phân phối phổ biến là phân phối với UTAD (Distribution with UTAD) và phân phối không có UTAD (Distribution without UTAD).

Cấu trúc phân phối loại 1 có UTAD
Hình 2: Phân phối có UTAD
Cấu trúc phân phối không có Spring
Hình 3: Phân phối không có Spring

Trong giai đoạn phân phối, CO sẽ luôn tìm cách bán mỗi khi giá chạm vào biên trên, và ngừng bán khi giá quay về biên dưới (trừ SOW).

Thậm chí ở biên dưới, CO sẽ mua vào để đẩy giá tăng lên, rồi lại bán tiếp khi giá chạm vào biên trên.

Việc đọc Tape Reading dựa trên quy luật nỗ lực kết quả sẽ giúp chúng ta phát hiện ra các kế hoạch bán tinh vi mà CO thực hiện trong TR.

Phase A: Hành động dừng xu hướng tăng

Khi giá đạt đến target PnF, xu hướng tăng sẽ dừng lại. Đây là kết quả của nguyên nhân được xây dựng từ vùng cân bằng được tích lũy trước đó.

Pha A phân phối có các sự kiện giống với giai đoạn tái tích luỹ, và là nghịch đảo của pha A giai đoạn tích luỹ.

Phase A giai đoạn phân phối
Hình 4: Phase A giai đoạn phân phối

PSY (Preliminary Supply): Nguồn cung ban đầu

Ở cuối một xu hướng tăng, nguồn cầu chủ yếu là kết quả mua vào của công chúng.

PSY là một nguồn cung xuất hiện để làm đà tăng suy yếu, chỉ đủ mạnh để giá dừng tăng trong ngắn hạn.

PSY có khối lượng lớn, thể hiện nỗ lực chặn giá của phe bán.

Lưu ý rằng nếu PSY đủ sức chặn đứng đà tăng, nó sẽ trở thành BC.

BC (Buying climax): Cao trào mua

Nguồn cung tại PSY thất bại trong việc làm giá dừng tăng, đà mua vẫn tiếp diễn khiến giá tiếp tục phá vỡ mức đỉnh của PSY.

Giá tiếp tục đi lên đến khi gặp một nguồn cung cực lớn đến từ CO, chặn đứng đà tăng của giá.

BC có thể kết thúc theo hai cách:

  • Một sự bùng nổ giá tăng mạnh có biên độ lớn và khối lượng rất lớn. Các thanh nến tăng liên tiếp tạo đà hưng phấn cho công chúng mua vào.
  • Nếu ở PSY, nguồn cung đã hấp thụ phần lớn đà tăng thì tại SC khối lượng có thể nhỏ đi kèm với biên độ nến nhỏ, thể hiện sự kiệt sức của phe mua.

BC sẽ càng dễ phát hiện hơn nếu nó ở vị trí vượt ra khỏi đường xu hướng tăng xuôi/ngược.

AR (Automatic reaction): Hồi tự động

Sau khi đà tăng bị CO hấp thụ phần lớn tại BC, giá điều chỉnh giảm lớn một cách đột ngột và rõ ràng.

Điều này thể hiện việc chủ động xả hàng của CO. Lượng hàng mà họ đã hấp thụ trong suốt quá trình tích luỹ trước đó sẽ được bán số lượng lớn tại đây.

Sự thay đổi hành vi từ BC xuống AR là đáng chú ý và dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường trên biểu đồ.

Đó chính là CHoB lần thứ nhất.

Mức đáy thấp nhất của AR là mức giá mà tại đó việc bán tháo lượng hàng trước đó đã dừng lại, nguồn cầu đã xuất hiện tại đây đẩy giá đi lên đánh dấu mức đáy hỗ trợ trong tương lai.

ST (Secondary test): Kiểm tra thứ cấp

ST là một đợt tăng phục hồi trở lại quanh đỉnh BC với mục đích kiểm tra lại nguồn cầu từ công chúng.

Sự thay đổi hành vi từ giảm sang tăng này chính là CHoB lần thứ hai.

Ở đỉnh ST xuất hiện các thanh nến đảo chiều có khối lượng lớn và duy trì ở mức cao trung bình khi giảm xuống.

Nếu đợt tăng này dừng lại xung quanh mức giá của BC và giảm trở lại sau đó thì đây chính là CHoB thứ ba.

3 CHoB = CHoCH, giá chính thức thay đổi đặc tính từ xu hướng tăng thành không có xu hướng (sideway).

Đồng nghĩa với việc giá đang đứng trước hai ngã rẽ: hình thái phân phối hoặc tái tích luỹ.

Một Trading Range được kẻ song song đi qua SC và AR biểu thị cho phạm vi mà giá sẽ dao động trong khoảng thời gian sau đó.

Phase B: Xây dựng nguyên nhân

Phase B cấu trúc phân phối
Hình 5: Phase B cấu trúc phân phối

Tại phase B, giá dao động trong biên TR được kẻ từ BC và AR để xây dựng nguyên nhân.

Phase B giai đoạn phân phối tương tự như giai đoạn tích luỹ, giá sẽ test biên trên và biên dưới để kiểm tra nguồn cầu.

Các phiên ST phase B sẽ lặp đi lặp lại, đây là các đợt giá phục hồi tăng từ gần đường hỗ trợ lên đường kháng cự.

Giai đoạn B của quá trình phân phối có những đặc điểm giống với giai đoạn tích luỹ, ngoại trừ các manh mối xuất hiện cho thấy sự cân bằng cung – cầu chuyển hướng về nguồn cung.

UT (Upthrust): Bẫy tăng giá

UT là một dạng mở rộng hơn của ST, sự kiện UT là khi giá phá vỡ giả lên biên trên của TR.

Giá đi lên vượt qua đỉnh cũ BC để thu hút retail mua vào, sau đó CO bán chủ động làm giá nhanh chóng đi xuống khiến họ không kịp trở tay.

Tại xung quanh UT khối lượng sẽ lớn do CO đang “lén lút xả hàng”, khối lượng tiếp tục duy trì ở mức cao cho đến khi giá quay trở lại biên dưới của TR.

mSOW (minor Sign of Weakness): Dấu hiệu suy yếu nhỏ

Sau một ST hoặc UT, giá giảm mạnh xuống đâm thủng biên dưới của TR đi kèm với biên độ rộng và khối lượng cao.

Đây chính là dấu hiệu suy yếu mSOW. Nếu sự kiện mSOW xuất hiện ở đầu phase B, chứng tỏ nguồn cung đang chiếm ưu thế so với nguồn cầu (cung > cầu).

Phase C: Kiểm tra

Pha C là giai đoạn kiểm tra cuối cùng để bắt đầu cho giai đoạn giảm giá.

Khi đỉnh được kiểm tra thành công, giá bắt đầu giảm liên tục và mạnh với sự biến động lỏng (nhanh).

Hành động Test cuối cùng chính là trọng tâm chính của pha C.

Phase C có thể có UTAD hoặc LPSY, tuỳ vào nguồn của của thị trường và ý đồ của CO.

Phase C cấu trúc phân phối
Hình 6: Phase C cấu trúc phân phối

UTAD (Upthrust after distribution): Bẫy tăng giá sau phân phối

UTAD là cú kiểm tra dưới dạng phá vỡ giả lên đỉnh cao nhất của phase A và B (ngược lại với Spring của tích luỹ).

Đặc trưng của UTAD thường là biên độ giá tăng mạnh và khối lượng mua cao, đẩy giá tăng vọt phá vỡ đỉnh.

Đây là cái bẫy tăng giá kích hoạt tâm lý mua vào của công chúng. Sau đó biên độ giá thu hẹp dần lại cho thấy phe mua kiệt sức.

Một công đôi việc, UTAD khiến hai đối tượng sau bị dính stoploss:

  • Những người bán khống ở biên kháng cự.
  • Sau khi phá vỡ, giá giảm trở lại vào TR kích hoạt dừng lỗ của những người mua vào theo breakout trước đó.

UTAD cho phép CO xả hàng ở mức giá cao nhất tới tay công chúng.

Sau UTAD là một phiên test UTAD, là nơi thích hợp để mở vị thế bán với dừng lỗ đặt trên UTAD.

LPSY phase C (Last point of Supply): Điểm kiểm tra cung cuối cùng

Trường hợp giá không đi lên vượt qua đỉnh tạo ra UTAD, giá sẽ tạo ra LPSY.

Đây là hành động giá nỗ lực tăng phục hồi lên biên nhưng thất bại.

Đặc trưng của sự kiện LPSY là nhịp tăng từ khu vực đáy tỏ ra yếu ớt với biên độ giá hẹp, chồng lên nhau và khối lượng mua giảm dần.

Sự mua vào yếu ớt cho thấy nguồn cầu đã suy yếu sau các đợt xả hàng của CO tại các ST trước đó.

Sau UTAD hoặc LPSY, phe mua đã kiệt sức và giá sẵn sàng cho đợt giảm mạnh một cách nhanh chóng.

Đây là sự thay đổi hành vi đáng chú ý (CHoB lần thứ nhất).

Phase D: Xu hướng giảm trong TR

Sau khi kiểm tra xong tại phase C cho thấy những yếu kém của nguồn cầu, nguồn cung bắt đầu tăng dần khi chuyển sang phase D.

Phase D cấu trúc phân phối
Hình 7: Phase D cấu trúc phân phối

MSOW (Minor Sign of Weakness): Dấu hiệu suy yếu lớn

MSOW là sự kiện giá giảm dễ dàng xuống biên dưới của TR đi kèm với khối lượng lớn và phạm vi vận động ngày một lớn dần, trong khi các đợt hồi phục (LPSY) có khối lượng nhỏ.

The Ice (băng) là một phép ẩn dụ tương tự như The Creek trong giai đoạn tích luỹ.

Tảng băng tượng trưng cho nguồn cầu đóng vai trò là đường hỗ trợ, được vẽ bằng cách nối các đáy của các swing trong TR lại với nhau.

Giá đục qua tảng băng tượng trưng cho việc The Ice đã chuyển từ nguồn cầu sang nguồn cung. Giá dễ dàng biến động lỏng và giảm đều đặn bên dưới The Ice.

MSOW hoặc mSOW dễ bị nhầm lẫn với Spring trong giai đoạn Tái phân phối vì nó đều nằm dưới đường cầu của TR.

Theo sau cú phá băng là một sự hồi phục nhẹ quay trở lại bề mặt tảng băng. Đây là CHoB lần thứ hai.

LPSY phase D

LPSY là đợt hồi phục quay trở lại nhưng thất bại do gặp phải áp lực cung cuối cùng tại The Ice.

Tảng băng lúc này chuyển từ nguồn cầu sang nguồn cung và trở thành kháng cự cứng.

Đây có thể là đợt phân phối cuối cùng của CO trước khi bắt đầu xu hướng Downtrend thực sự.

Giá không còn động lực để quay lại vùng kháng cự trên, volume tại LPSY giảm đi kèm với biên độ hẹp, chồng lên nhau thể hiện cho phe mua đã kiệt sức.

Sau khi test lại The Ice, giá tiếp tục xu hướng giảm với biến độ lỏng (giảm mạnh & nhanh) và volume tăng dần.

Đây chính là CHoB lần thứ ba.

3 CHoB = CHoCH, giá chính thức thay đổi đặc tính từ đi ngang sang xu hướng giảm.

Phase E: Xu hướng giảm ngoài TR

Phase E cấu trúc phân phối
Hình 8: Phase E cấu trúc phân phối

Giá lúc này đã rời khỏi TR và nguồn cung hoàn toàn kiểm soát thị trường.

Phase E bắt đầu từ thời điểm giá vượt qua khỏi đáy thấp nhất của MSOW.

Sau đó, liên tiếp các SOW (volume lớn) và LPSY (volume nhỏ) được tạo ra tại phase E tạo ra các đỉnh đáy thấp dần. Từ các đỉnh đáy này ta có thể kẻ một kênh xu hướng giảm.

Giá tiếp tục giảm cho đến khi đạt target giá hoặc xuất hiện tình trạng quá bán.

Dấu hiệu nhận biết cấu trúc phân phối

Phân phối và Tái tích luỹ là hai giai đoạn có nhiều sự tương đồng.

Một số dấu hiệu để nhận biết giai đoạn phân phối (tham khảo):

  • SOW với volume giảm lớn và volume hồi nhỏ là một đặc điểm quan trọng của giai đoạn Phân phối.
  • Nếu như một mức đáy thấp nhất xuất hiện trong giai đoạn đầu của TR và xuất hiện các đáy cao hơn (HL) sau đó trong TR thì có khả năng cao rằng đó là một giai đoạn Tái tích lũy đang được hình thành. 
  • Trong giai đoạn Phân Phối, khối lượng bán tăng cao trong các sóng giảm. Và khi so sánh các sóng giảm với nhau, khối lượng bán cùng với biên độ có xu hướng ngày một lớn dần sau khi tạo đỉnh.
  • Ngoài ra, các khối lượng bán lớn xuất hiện ở quanh đỉnh tại các khu vực kháng cự, cho thấy sự hiện diện lớn của nguồn cung.
  • Nếu như dấu hiệu của sự hấp thụ trong giai đoạn tích luỹ là volume giảm dần thì ngược lại, dấu hiệu của sự phân phối được thể hiện qua volume tăng dần.

Mục tiêu của CO là bán được nhiều hàng nhất có thể nhưng không được làm cho giá giảm. Nhưng sẽ làm cho xu hướng tăng chậm lại.

Hãy chú ý cách mà giá nhanh chóng giảm về đường hỗ trợ. Tín hiệu này cho thấy không có cầu mua vào cản trở giá và CO đang phân phối hàng ra.

Xây dựng chiến lược và các ví dụ:

  • Pha |A| & |B| là chiến lược để đưa ra các quyết định thoát hàng một phần tại các đỉnh BC, ST và UT.
  • Pha |C| & |D| là chiến lược thoát các vị thế còn lại bởi việc bán của CO phần lớn đã hoàn thành và họ đã rời bỏ thị trường. CO không còn động lực để đỡ giá cổ phiếu khỏi giảm nữa.
  • Các giai đoạn |C|, |D| và |E| là nơi chúng ta sẽ thiết lập các vị thế bán để chuẩn bị cho một sự giảm giá lớn và nhanh chóng.

Ví dụ về cấu trúc phân phối có UTAD cổ phiếu MU

Cấu trúc phân phối có UTAD cổ phiếu MU
Hình 9: Cấu trúc phân phối có UTAD cổ phiếu MU
  1. Quan sát thấy giá vượt ra khỏi kênh giá đảo ngược, đây là SC và giá dừng xu hướng tăng chuyển thành đi ngang.
  2. Đợt giảm giá từ SC xuống AR và từ ST phase A xuống mSOW có volume tăng, chứng tỏ lực xả mạnh của CO.
  3. Sự thiếu lực đẩy rõ ràng trong đợt hồi phục tăng từ mSOW lên UTAD, thể hiện qua volume mua giảm.
  4. Tại phase C, CO đã phân phối lượng lớn nguồn cung trong tay với cột volume lớn nhất trong cả TR.
  5. Khi giá đục xuống qua The Ice, nguồn cầu đã chuyển thành nguồn cung và giá dễ dàng giảm tiếp sau đó cùng với volume bán chiếm phần lớn thời gian.
  6. LPSY là các vị trí thích hợp để mở vị thế sell cho các nhà phân tích Wyckoff.

Ví dụ về cấu trúc phân phối không có UTAD cổ phiếu ISRG

Cấu trúc phân phối không có UTAD cổ phiếu ISRG
Hình 10: Cấu trúc phân phối không có UTAD cổ phiếu ISRG
  1. Giá vượt qua kênh giá tăng đảo ngược tại vị trí SC báo hiệu sự dừng xu hướng tăng và chuyển thành đi ngang.
  2. Tại các vị trí biên trên của TR, volume cao cho thấy nguồn cung mạnh mẽ.
  3. Các đợt giá vượt lên kháng cự nhưng ngay lập tức đảo chiều giảm mạnh với volume duy trì ở mức cao, cho thấy sự xả hàng của CO.
  4. Các đợt giá hồi lên từ đáy có volume giảm chứng tỏ lực cầu mua vào rất yếu ớt.
  5. Tại vị trí LPSY phase C, giá tăng mạnh cùng volume cao tạo ra khoảng gap, khiến một số nhà phân tích non tay nghĩ rằng mSOW phase B là sự kiện Spring của cấu trúc tái tích luỹ. Thậm chí ta có thể kẻ một đường Creek từ đỉnh ST xuyên qua phase C.
  6. Tuy nhiên nỗ lực tăng sau đó không còn khi giá giảm trở lại và phá qua The Ice. Nếu trước đó bias của chúng ta là tăng thì tại đây phải đổi lại thành giảm.
  7. Vị trí LPSY test lại The Ice là nơi thích hợp để mở vị thế bán khống.

Ngoài hai cấu trúc phân phối thông thường (Conventional Distribution Trading Range), chúng ta có một vài hình dạng khác. Bạn đọc vui lòng đọc tiếp trong phần 8.

5/5 - (1 vote)


LỰA CHỌN SÀN GIAO DỊCH FOREX UY TÍN

Logo exness
FOREX
logo hfm
FOREX
CHỨNG KHOÁN
CHỨNG KHOÁN
Jack Auth

Mình là Jack - một blogger, youtuber về lĩnh vực giao dịch tài chính. Mình lập ra group Banktraps chuyên về hướng dẫn giao dịch bằng phương pháp SMC | ICT và Wyckoff và là nơi anh em trader trao đổi kiến thức cùng nhau giao dịch.

5 thoughts on “Wyckoff Phần 7: Giai đoạn phân phối”

Leave a Comment

Generic selectors
Exact matches only
Search in title
Search in content
Post Type Selectors
post
page
Filter by Categories
ICT
Nguyên Lý Sóng Elliott
SMC
Tâm lý giao dịch
Trading Hub 4.0
Wyckoff