Giai đoạn tái phân phối Wyckoff là gì?
Tái phân phối (Re-Distribution) trong Wyckoff là giai đoạn giá tạm ngừng giảm để củng cố sức mạnh của phe bán, theo sau đó là một xu hướng giảm mới.
Tái phân phối được hình thành trong một xu hướng giảm, và có thể xuất hiện nhiều lần.
Với giai đoạn tái phân phối, CO thực hiện:
- Đặt vị thế bán tại vùng đỉnh trong quá trình hình thành TR để chốt lời.
- Đóng vị thế bán (hoặc mua lại) ở vùng đáy của TR để ngăn giá giảm xuống sâu hơn.

Khi target giá của quá trình phân phối chưa đạt được thì cấu trúc tái phân phối được hình thành để bổ sung thêm lực bán mới nhằm đẩy giá tiếp tục giảm tới mục tiêu.
Phân tích một xu hướng giảm
Khi giai đoạn phân phối hoàn tất, số lượng lớn nguồn cung đang nằm trong tay công chúng mà không có sự đỡ giá của CO, giá sẽ sụt giảm nhanh chóng.
Đó chính là sự dư thừa nguồn cung và thiếu hụt sức mua.
Nhìn cảm quan thì xu hướng giảm không thân thiện và khó giao dịch hơn xu hướng tăng do sự biến động mạnh, đột ngột và khá hỗn loạn.
Xu hướng giảm nằm trong một kênh giá giảm dần.
Đặc điểm của một kênh xu hướng giảm:
- Đường cung kết nối hai đỉnh có khối lượng lớn đóng vai trò là đường kháng cự, nơi nguồn cung hiện diện đẩy giá xuống mức thấp hơn mỗi khí chạm vào.
- Đường cầu được kẻ song song với đường cung đi qua một đáy nằm giữa hai đỉnh.
- Khi giá rơi xuống khỏi đường cầu thể hiện quá bán, là dấu hiệu của sự kiệt sức và có thể làm dừng giai đoạn Downtrend (không phải tín hiệu mua).
- Sự kiện dừng này có thể hình thành giai đoạn tái phân phối hoặc tích luỹ, việc sử dụng phân tích Wyckoff sẽ giúp phát hiện ra kịch bản nào sẽ xảy ra.
- Việc sử dụng kênh giá đảo ngược thậm chí còn hữu ích hơn khi xảy ra hiện tượng quá bán.
Đồ thị hình 2 thể hiện xu hướng giảm của $BTC:
- Xuất hiện tình trạng quá bán khi giá phá xuống khỏi đường cầu. Một cấu trúc tái phân phối nhỏ được hình thành sau đó.
- Sau giai đoạn phân phối, giá giảm xuống và lọt vào một kênh xu hướng giảm (nét nhỏ). Kênh giá này được tạo bởi ba điểm màu cam.
- Giá tiếp tục giảm sau giai đoạn tái phân phối. Ta xác định được một kênh giá giảm lớn (nét đậm), được tạo bởi ba điểm màu xanh.
- Xuất hiện tình trạng quá bán khi giá phá xuống khỏi đường cầu. Một cấu trúc tái phân phối lớn hơn được hình thành sau đó.
Cấu trúc tái phân phối (Redistrubution)
Cấu trúc Tái phân phối có sự bắt đầu tương tự với Tích luỹ, nhưng quá trình hình thành và kết quả giống với cấu trúc Phân phối.
Tái phân phối có hai hình thái thông thường với các pha và sự kiện như sau:
Các pha và sự kiện của giai đoạn Tái phân phối được diễn ra tương tự như giai đoạn Phân phối. Điều khác biệt là Tái phân phối được bắt đầu bởi xu hướng giảm, còn Phân phối được bắt đầu bởi xu hướng tăng.
Phase A: Dừng xu hướng giảm
Phase A tái phân phối giống với phase A của Tích luỹ vì trước đó là một xu hướng giảm dài, gồm các sự kiện:
PS (Preliminary Support): Hỗ trợ sơ bộ
Là sự mua vào tạm thời làm suy yếu đà giảm giá trước đó.
Khối lượng giao dịch tại PS thường cao và giá có thể vượt xuống khỏi đường cầu của kênh xu hướng giảm.
SC (Selling Climax): Cao trào bán
Thời điểm công chúng ồ ạt bán tháo do các tin tức tiêu cực thì CO ngừng bán, thậm chí họ mua vào để tạm thời hấp thụ nguồn cung từ công chúng.
Nguồn cung yếu đi khiến giá dừng giảm và lực cầu bắt đáy xuất hiện khiến giá tăng lên tạo ra sự thay đổi hành vi đáng chú ý (CHoB lần thứ nhất).
Khối lượng giao dịch tại SC có thể cao hơn hoặc thấp hơn PS tuỳ vào nguồn cung còn sót lại.
SC sẽ có độ tin cậy cao hơn nếu giá nằm dưới đường cầu và xuất hiện bóng nến.
AR (Automatical Rally): Hồi tự động
Giá hồi lên đến AR, tại đây CO xuất hiện và tiếp tục xả hàng khiến giá giảm trở lại (CHoB lần thứ hai).
ST phase A: Kiểm tra thứ cấp
CO xả hàng đẩy giá giảm xuống biên dưới SC để kiểm tra lại khu vực này, tại đây CO ngừng bán khiến giá khó giảm tiếp.
Một lực cầu xuất hiện mua vào để bảo vệ vị thế mua trước đó tại SC khiến giá tăng lên, tạo ra sự kiện ST phase A (CHoB lần thứ ba).
3 CHoB = CHoCH → Giá chính thức chuyển sang giai đoạn đi ngang và kết thúc phase A của quá trình tái phân phối.
Phase B: Xây dựng nguyên nhân
Bắt đầu từ pha B, giá có các tính chất giống với giai đoạn Phân phối.
UT (Upthrust): Bẫy tăng giá
Sự kiện UT là những đợt kiểm tra nguồn cung tại biên trên TR.
CO đẩy giá phá vỡ qua biên trên tạo hưng phấn cho công chúng mua vào sau đó CO xả hàng ra để rũ bỏ những người này.
mSOW (Minor Sign of Weakness): Dấu hiệu suy yếu nhỏ
Liên tục những cú kiểm tra biên dưới của TR (ST phase B).
Công chúng đang dần đuối sức qua các đợt ST, đến khi giá giảm xuống sâu hơn đáy của TR là một dấu hiệu suy yếu, đây là sự kiện mSOW (hoặc ST as mSOW).
Quan sát mSOW để so sánh với các ST trước có chuyển động tăng giá yếu ớt hay không, tức thiếu sự quan tâm của phe mua.
Phase C: Kiểm tra
Giống với phân phối, sự kiện UTAD là hành động mà CO cố gắng điều phối giá vượt quá đỉnh cao nhất của pha A và pha B.
Một cái bẫy hoàn hảo để công chúng FOMO mua vào tại đây.
UTAD là vị trí mà CO có thể bán lượng hàng của mình ở mức giá tốt nhất.
Hành động xả hàng của CO tại UTAD đồng thời cũng kiểm tra lực cầu của công chúng còn mạnh mẽ không.
Trong trường hợp giá không thể tăng vượt đỉnh, ta gọi đó là LPSY.
Sau sự kiện UTAD/LPSY, phe mua hết tiền mua vào hoặc không còn hứng thú, bởi phần lớn nguồn cung đang nằm trong tay họ.
Con đường giá giảm lúc này ít cản trở nhất, CO tiếp tục bán nốt lượng hàng của mình khiến giá bắt đầu giảm và đi vào phase D.
Đây chính là CHoB lần thứ nhất.
Phase D: Giảm giá trong TR
MSOW (Major Sign of Weakness): Dấu hiệu suy yếu lớn
Nguồn cầu đã cạn kiệt tại phase C, cung > cầu → Giá nhanh chóng giảm xuống biên dưới một cách dễ dàng (Ease of Movement), phá qua đường The Ice tạo Major SOW.
Khi giá nằm dưới The Ice, giá dễ dàng giảm xuống vì gặp ít trở ngại.
LPSY phase D
Giá đang ở vị trí thấp hơn khu vực đáy TR, lực cầu còn lại từ công chúng cố gắng bắt đáy để bảo vệ vị thế khiến giá hồi trở lại LPSY. Đây là CHoB lần thứ hai.
Lực hồi này rất yếu ớt, thể hiện qua khối lượng nhỏ.
Lúc này CO có thể thoải mái bán nốt số hàng còn lại mà mình nắm giữ mà không sợ có ai đỡ giá, giá tiếp tục giảm xuống đi sang phase E.
Đây chính là CHoB thứ ba.
3 CHoB = CHoCH → Giá thay đổi đặc tính từ đi ngang sang xu hướng giảm.
Phase E: Xu hướng giảm ngoài TR
Khi CO đã trao xong lượng hàng, phần lớn nguồn cung đang nằm trong tay công chúng. CO đang giữ tiền và tất nhiên họ không mua vào để đỡ giá.
Người bán lấn át người mua, mọi người tranh nhau bán tạo ra sự hỗn loạn, có thể nhìn thấy rõ ràng qua các thanh giá có biên độ rộng, gap, khối lượng thất thường.
Tại phase E, các SOW (đáy) và LPSY (đỉnh) thấp dần hình thành nên một kênh xu hướng giảm.
Suốt quá trình Tái phân phối, khối lượng giao dịch sẽ lớn và tăng dần như ở Phân phối.
Các mẫu hình cấu trúc tái phân phối
Redistribution có nhiều hình dạng, biến thể và trên các khung thời gian khác nhau.
Chúng thường phức tạp dẫn đến khả năng dự đoán bị hạn chế.
Vẫn như những bài viết trước, lời khuyên là chúng ta chỉ nên tập trung vào hai mẫu hình chính của cấu trúc, là Tái phân phối có UTAD và Tái phân phối không có UTAD.
Các mẫu hình biến thể chỉ dùng với mục đích tham khảo.
Sau đây là các hình dạng Redistribution Schematic thường gặp:
Cấu trúc tái phân phối có UTAD

Đây là mẫu hình Tái phân phối thông thường, dễ nhận biết. Vị trí mSOW dễ bị nhầm lẫn với Spring trong mẫu hình Tích luỹ.
💡 Mẹo: Có thể dùng Volume Profile để chốt lời trong trường hợp bạn đã mở vị thế mua tại Spring nhưng vẫn có sự nghi ngờ đó là mSOW (sẽ được trình bày trong bài Volume Profile).
Ví dụ về mẫu hình phân phối có UTAD thông thường đồng Cardano:
- Từ phase A đến phase B, khối lượng giao dịch giảm xuống cho thấy CO không có hứng thú tham gia.
- Giá có ba lần vượt lên biên trên trong phase B nhưng rút râu đi xuống cho thấy có lực bán chủ động đẩy xuống.
- Tại phase C, giá được đẩy lên vượt qua biên trên của TR. Quan sát thấy khối lượng tại cú Test nhỏ hơn nhiều so với khối lượng tại UTAD cho thấy phe mua kiệt sức.
- Sang phase D, giá giảm xuống với volume tăng dần cho thấy phe bán chiếm ưu thế.
- Điểm vào lệnh phù hợp nằm ở khu vực LPSY.
Cấu trúc tái phân phối không có UTAD

Đây cũng là hình dạng Tái phân phối dễ nhận biết khi giá nằm gọn trong một Trading Range.
Đặc điểm thường thấy của mô hình này là nguồn cầu nhanh chóng cạn kiệt tại vị trí phase C khiến giá không đi lên vượt qua được biên trên của TR.
Ví dụ về mẫu hình tái phân phối không có UTAD cặp forex NZD/USD:
- Tại phase A, khối lượng giảm từ PS, SC đến AR cho thấy động lực CHoCH không cao → Tạm thời bias nghiêng về Tái phân phối.
- Sau đó khối lượng tại ST cao đột biến, đẩy giá vượt qua biên trên tạo ra sự kiện Upthrust Action. Tuy nhiên ba cây nến tăng tạo ra UA có volume giảm dần, theo sau là cây nến đỏ phủ nhận kèm với khoảng gap cho thấy phe bán xuất hiện và áp đảo.
- Giá giảm xuống biên dưới để kiểm tra (ST), sau đó sóng hồi đẩy lên một cách yếu ớt (biên độ hẹp) cùng với khối lượng giảm nhẹ. Sau đó nhanh chóng giảm vượt qua biên dưới với volume cao → Như vậy dự đoán ST đó chính là mSOW và sóng hồi lên chính là LPSY phase C.
- Một cú hồi lên LPSY phase D xuất hiện nhiều râu nến từ chối quay lại vào TR, điểm vào lệnh sell là cây nến đỏ SBar sau đó.
Dạng 3: Tái phân phối thể hiện suy yếu

Cấu trúc này thể hiện sự suy yếu, khi giá không thể quay lại đỉnh đã tạo trước đó mà liên tục tạo ra các đỉnh đáy thấp dần, có thể vẽ TR ngang hoặc dốc.
Ví dụ về mẫu hình tái phân phối suy yếu Ethereum khung thời gian H1:
- Đầu cấu trúc ta thấy có lực cầu đỡ giá khá mạnh, nhưng kết quả không lớn.
- Giá giảm dần ở phase B đến khi phá qua biên dưới TR đi sâu xuống dưới thì volume tăng mạnh ở các cây nến đỏ → Cung tăng.
- Giá hồi lại biên trên với volume giảm → Cầu đang suy yếu.
- Giá đễ dàng giảm tiếp sau đó với volume tăng mạnh. Điểm thích hợp mở vị thế bán ở cây nến Sbar sau LPSY.
Dạng 4: Tái phân phối sau phục hồi

Mô hình này thể hiện rõ sức mạnh của phe mua ở giai đoạn đầu phase A.
CO cảm thấy không lực cầu mạnh mẽ nên họ không tiến hành xả hàng ở mức giá thấp. Thay vào đó họ để giá tăng lên đến một vùng kháng cự trên cao rồi tiến hành một kế hoạch phân phối bên trên.
Thực chất cấu trúc tái phân phối dạng này là sự kết hợp của một cấu trúc tích luỹ nhỏ và một cấu trúc phân phối lớn hơn.
Ví dụ về mẫu hình tái phân phối sau phục hồi chỉ số NASDAQ 100:
- Khối lượng tại phase A cao cho thấy lực cầu mạnh và kết quả CHoB thứ ba lớn, CO thuộc phe bán buộc phải để giá tăng lên vùng thanh khoản bên trên để phân phối hàng.
- Một cấu trúc phân phối được CO khéo léo thực hiện tại đây với đầy đủ sự kiện.
Dấu hiệu nhận biết Tái phân phối
Giai đoạn Tái phân phối dễ bị nhầm với giai đoạn Tích luỹ. Việc tránh mua vào ở giai đoạn đầu sẽ giúp ích rất nhiều.
mSOW dễ bị nhầm lẫn với Spring, và UTAD dễ bị nhầm lẫn với SOS.
Các nhà phân tích Wyckoff sẽ dựa trên tư duy: sự kiểm soát nguồn cung sẽ thay đổi từ các CO ở đầu xu hướng giảm, nhưng sau đó sẽ dần dần chuyển sang cho công chúng trong suốt quá trình hình thành TR.
Một số dấu hiệu nhận biết:
- CO tăng quy mô bán tại đỉnh trong quá trình hình thành TR, dẫn đến khối lượng có thể tăng cao dần mỗi khi giá chạm các đỉnh.
- Đôi khi các đợt tăng giá thường nhanh và biến động mạnh để loại bỏ những người chơi bán khống yếu ớt, trong khi các đợt giảm giá thường ít biến động hơn ở phase A và B.
- Nếu giá đã hình thành cấu trúc phân phối dạng Hypodermic (cây thông hoặc kim tiêm) trên đỉnh, rất có thể CO chưa kịp phân phối hết hàng. Do đó TR đầu tiên sau một Hypodermic rất có thể là tái phân phối, là một cơ hội quan trọng để CO bán nốt hàng của mình.
- Khi nằm trong một kênh giá giảm, giai đoạn tái phân phối có thiên hướng tiếp cận với đường cung ở cuối TR và giảm mạnh sau đó.
So sánh với Tích luỹ:
- So với việc gom hàng trong giai đoạn tích luỹ thì giai đoạn tái phân phối sẽ gây khó khăn với CO do sự thiếu hụt người mua khi họ bán ra.
- Giai đoạn tích luỹ thường kết thúc nhẹ nhàng với sự xuất hiện của một xu hướng tăng mới. Trong khi giai đoạn tái phân phối thường bắt đầu và kết thúc với sự biến động lớn một cách rõ ràng.
- Khi giá kill đường Creek, chúng ta đổi bias thành giảm và vẽ lại đường The Ice.










Các mô hình này lấy ở tài liệu nào vậy ạ?