Bài viết này sẽ giúp bạn đọc hiểu ý nghĩa và sử dụng công cụ đắc lực Volume Profile (VP) và ứng dụng của nó.
Theo quy luật cung – cầu, chúng ta đã biết giá có xu hướng đi từ vùng cân bằng cung – cầu này đến vùng cân bằng cung – cầu khác.

Các vùng cân bằng này là nơi tập trung nhiều khối lượng giao dịch nhất vì theo thuyết đấu giá, đây là khu vực mà người mua và người bán cảm thấy thoải mái khi trả giá với nhau.
Volume Profile là gì?
Volume Profile (Hồ sơ khối lượng) là công cụ đo lường sự quan tâm của nhà giao dịch theo từng mức giá cụ thể dựa trên khối lượng giao dịch.
Volume Profile là biến thể của Market Profile, được xây dựng dựa trên ba biến số của thuyết đấu giá: Giá, Thời gian, Khối lượng.
Như vậy chúng ta sẽ có hai dạng volume:
- Volume at time, là volume nằm dọc đo lường khối lượng của từng cây nến, cho biết mức độ quan tâm của các nhà giao dịch tại các mốc thời gian cụ thể (Cho biết khi nào).
- Volume profile nằm ngang sẽ đo lường khối lượng của từng mức giá, cho thấy các nhà giao dịch quan tâm đến mức giá nào nhất (Cho biết ở đâu).
Cấu tạo của Volume Profile

Các thành phần cấu tạo nên Volume profile được thể hiện trên bảng sau:
| Thành phần | Giải thích |
| VA | Value Area – Vùng giá trị |
| VAH | Value Area High – Vùng giá trị cao |
| VAL | Value Area Low – Vùng giá trị thấp |
| High | Điểm cực trên của Volume Profile |
| Low | Điểm cực dưới của Volume Profile |
| VPOC | Volume Point of Control – Mức giá công bằng |
| HVN | High Volume Node – Nút khối lượng cao |
| LVN | Low Volume Node – Nút khối lượng thấp |
VA (Value Area)
VA – vùng giá trị là vùng giá được giao dịch nhiều nhất, hoặc nơi mà cung – cầu cân bằng nhất. VA đại diện cho 68.2% tổng khối lượng giao dịch của toàn bộ Volume Profile.
VA được xác định là vùng nằm giữa VAH và VAL.
Vùng nằm ngoài VA sẽ chiếm 31.8% khối lượng giao dịch còn lại của toàn bộ Volume Profile.
Trên hình 3 ta có một vùng Volume Profile rộng, trong đó vùng giá trị của VP này nằm giữa VAH và VAL. Đây là vùng giá tập trung 68.2% khối lượng giao dịch của toàn bộ VP.
Chúng ta thấy giá dao động trong vùng giá trị này, VAH và VAL đóng vai trò là vùng kháng cự và hỗ trợ của giá.
VPOC (Volume Point of Control)
VPOC hay POC là mức giá cân bằng nhất trong một VA. Đây là nơi mà phe mua và phe bán chấp nhận nhiều nhất.
Nếu giá vượt lên khỏi POC chứng tỏ pha mua đang kiểm soát và ngược lại, nếu giá nằm dưới POC thì phe bán đang kiểm soát.
POC là nơi tập trung nhiều volume giao dịch nhất, do đó khi giá thoát ra khỏi vùng VA sẽ có khả năng quay lại kiểm tra lại POC trước khi tiếp diễn xu hướng tăng.
Trên hình 4 cho thấy trong một xu hướng tăng, giá quay lại tìm một vùng VA và đảo chiều khi gặp POC của vùng VA đó.
HVN (High Volume Node)
HVN là vùng cân bằng ngắn hạn, thể hiện dưới dạng một vùng lồi ra trong volume profile.
Đây là nơi người mua và bán cảm thấy hài lòng khi giao dịch nên khối lượng tập trung chủ yếu tại các khu vực này.
Mỗi một HVN có thể được coi là một vùng VA nhỏ và có một POC trong đó.
Hình 5 thể hiện các HVN chart Bitcoin, là những nơi mà người mua và người bán chấp nhận trả giá thoải mái, tại đây giá thường đi ngang hoặc tạo pullback.
HVN là nơi có sự đồng thuận giữa người mua và người bán nên trong tương lai giá có thể quay trở lại đồng thuận tiếp ở vùng này.
→ Ta có thể coi HVN giống như một “nam châm hút giá”.
Hình 6 cho thấy các HVN hoạt động như một nam châm, giá có thiên hướng quay lại các HVN gần nhất trong một đợt pullback trước khi tiếp diễn xu hướng trước đó.
LVN (Low Volume Node)
LVN là vùng mất cân bằng cung – cầu (imbalance), thể hiện dưới dạng một vùng lõm vào trong volume profile.
Đây là nơi người mua và bán không thoải mái khi giao dịch nên có khối lượng ngang nhỏ (trũng).
Có thể coi LVN là những vùng giá không công bằng.
Chúng không nhận được sự đồng thuận từ cả hai phía mua và bán nên trong tương lai dự kiến giá cũng không có được sự đồng thuận gây ra sự từ chối.
Sự từ chối có thể biểu hiện bằng việc giá di chuyển nhanh qua khu vực này, hoặc giá đảo chiều ngay khi gặp khu vực này.
Xem lại biểu đồ Bitcoin ta thấy các LVN hoạt động theo hai cách: đẩy giá xuyên qua hoặc từ chối.
Trong một xu hướng rõ ràng, khi giá được đẩy mạnh lên sẽ tạo ra một vùng mất cân bằng là LVN thì trong tương lai giá sẽ có xu hướng từ chối vùng LVN này.
Nói ngắn gọn thì giá “ghét” LVN và thích “HVN”. HVN và LVN nằm xen kẽ nhau.
Phương pháp SMC được tách ra từ Wyckoff gọi LVN là IMB/FVG.
Một volume profile chỉ có một VA nhưng có thể có nhiều HVN và LVN. Chúng ta có thể sử dụng linh hoạt HVN và LVN làm entry hoặc take profit.
Các loại Volume Profile
Session Volume Profile
Session Volume Profile là dạng hồ sơ khối lượng thể hiện mức độ cân bằng theo từng phiên, mỗi phiên tương ứng với một ngày.
Dạng volume profile này hữu ích nếu bạn là một nhà giao dịch trong ngày.
Do phiên giao dịch ngày hôm nay vẫn đang phát triển nên chúng ta sẽ sử dụng chủ yếu volume profile của phiên ngày hôm trước.
Khi giá đang đi trong một xu hướng rõ ràng, các mức POC, VAH, VAL là những nơi cần quan sát để mở vị thế.
Trong ví dụ trên hình, một xu hướng giảm rõ ràng đang hình thành:
- Vị trí 1 giá pullback về VAL của VP phiên hôm trước.
- Vị trí 2 giá pullback về VAH của VP phiên hôm trước.
- Vị trí 3 giá pullback về POC của VP phiên hôm trước.
Với Volume Profile theo phiên, chúng ta nên áp dụng nguyên tắc 80%, được đề cập trong phần 11.
Fixed Range Volume Profile
Đây là dạng Volume có độ linh hoạt cao, có thể giúp nhà giao dịch kiểm tra khối lượng tại một khu vực bất kỳ bằng cách kéo tay thủ công.
Fixed Range VP thường được sử dụng khi giá có xu hướng hoặc khi dao động trong một phạm vi cân bằng.
Ví dụ 1 về Fixed Range VP khi có xu hướng giảm:
- Thị trường đi trong một xu hướng giảm.
- Giá pullback về một vùng HVN, đây là một vùng cân bằng cung – cầu trước đó.
- Giá sau đó từ chối vùng này và tiếp tục xu hướng giảm.
Ví dụ 2 khi có xu hướng tăng:
- Vàng đi trong một xu hướng tăng.
- Một đợt pullback điều chỉnh về từ chối vùng HVN đầu tiên bằng cách đi xuyên qua nó.
- Giá muốn tìm đến vùng HVN lớn hơn bên dưới, tuy nhiên bị chặn lại bởi vùng LVN trước đó và quay đầu.
Ví dụ 3 về Fixed Range VP khi nằm trong một vùng cân bằng:
- Giá cặp tiền tệ USDJPY đi trong một vùng cân bằng cung cầu (nhìn thấy sideway).
- Sau đó giá mất cân bằng và giảm xuống dưới.
- Giá quay lại test vùng cân bằng tại vị trí VAL và từ chối, rồi tiếp tục giảm.
Visible Range Volume Profile
Đây là dạng Volume Profile thể hiện toàn bộ khối lượng của tất cả các mức giá trên biểu đồ. Bạn chỉ cần kéo chart khối lượng sẽ thay đổi theo.
Với dạng này chúng ta sẽ đánh giá được bối cảnh chung của toàn bộ thị trường mà không bị nhiễu trong ngắn hạn.
Hãy chú ý đến các HVN/LVN sẽ là những nơi mở vị thế và chốt lời phù hợp.
Ví dụ về Visible Range Volume Profile:
- Quan sát một TR Wyckoff, thấy sự kiện Spring tiềm năng xuất hiện.
- Tại vị trí Spring, giá từ chối HVN và quay trở lại vào range, mở vị thế mua tại cây nến tăng từ chối.
- Giá đi lên gặp vùng LVN và bị đẩy ngược trở lại. Đây là nơi chốt lời thích hợp.
Ví dụ trên đây cho thấy việc kết hợp Volume Profile với Wyckoff là hoàn toàn khả thi.
Ứng dụng Volume Profile
Volume Profile cung cấp thông tin khách quan cho nhà giao dịch và phù hợp với bối cảnh của Wyckoff.
Các ứng dụng của Volume Profile trong giao dịch:
1. Xác định cấu trúc Wyckoff
Biên trên và biên dưới của một cấu trúc Wyckoff sẽ luôn được tạo ra bởi hai vùng LVN.
Khi giá nằm giữa hai vùng LVN sẽ liên tục từ chối quay đầu và tạo ra vùng kháng cự, hỗ trợ.
Cho đến khi giá vượt qua một LVN chúng ta sẽ xác định cấu trúc đó là tích luỹ hay phân phối.
Sau đó chúng ta đợi giá quay lại test tại các vị trí VAH, VAL, POC.
Bằng cách này thậm chí chúng ta không cần phải vẽ hai đường biên Wyckoff.
Ví dụ về xác định cấu trúc cặp tiền tệ USDJPY khung m30:
Trong ví dụ trên:
- Nhận thấy giá đi sideway chúng ta kéo một Fixed Range VP bao phủ toàn bộ range này.
- Giá phá xuống khỏi VA sau một UTAD tiềm năng, nghi ngờ đây chính là cấu trúc tái phân phối.
- Giá quay lại test VAL của vùng giá trị, đây chính là LPSY tiềm năng trong Wyckoff gợi ý cho một lệnh bán khống.
2. Xác định bias thị trường
Chúng ta luôn ưu tiên giao dịch theo xu hướng tăng của vùng HVN cuối cùng được tạo.
Hãy nhớ lại ý nghĩa của HVN, khi giá sideway trong một HVN có nghĩa giá đang trong trạng thái cân bằng cung – cầu tạm thời. Chỉ sau khi giá phá lên hoặc xuống khỏi HVN chúng ta mới có một bias kế tiếp.
- Khi giá nằm bên trên một vùng HVN gần nhất, quyền kiểm soát nằm về phe mua, chúng ta đang có bias tăng.
- Và khi giá đục xuống thủng vùng HVN gần nhất, quyền kiểm soát nằm về phe bán, chúng ta đổi bias thành giảm sau khi có một sự xác nhận (pha test).
Ví dụ về việc sử dụng VP để xác định bias cặp NZDUSD khung m15:
Trong hình 14:
- Giá đi trong một xu hướng tăng, để lại các HVN và LVN. Chúng ta sẽ kéo Fixed Range VP từ đáy cho đến đỉnh hiện tại của xu hướng tăng.
- Quan sát thấy giá vượt xuống qua HVN gần nhất, bias lúc này vẫn đang là tăng, bias giảm được xác nhận sau khi giá test lại HVN và từ chối để tiếp tục giảm sau đó.
- Trong trường hợp này, pha test lại HVN chính là UTAD của một cấu trúc tái phân phối Wyckoff.
Vẫn là ví dụ này, chúng ta sẽ kẻ một Fixed Range VP từ đỉnh đến đáy gần nhất:
- Bias lúc này vẫn đang là giảm.
- Nếu giá vượt lên khỏi HVN và test lại từ chối thành công, chúng ta sẽ dổi bias thành tăng.
- Lưu ý rằng chúng ta không nên phụ thuộc vào HVN này, vì xu hướng giảm vẫn đang tiếp tục.
- Nếu giá tiếp tục giảm và tạo ra một HVN khác ở bên dưới, chúng ta sẽ xác định bias khi giá vượt qua HVN đó vì đó là HVN gần nhất.
Chúng ta sẽ nghiên cứu sâu vào cách kết hợp Volume Profile và Wyckoff trong phần kế tiếp.
















Rất đầy đủ ạ, mà hơi phức tạp :)))
Cảm ơn anh ạ