Wyckoff phần 2: Ba quy luật vàng của Wyckoff

Wyckoff

Cùng với thuyết đấu giá thì ba quy luật của Wyckoff gồm Quy luật cung – cầu, Quy luật nguyên nhân – kết quả, Quy luật nỗ lực – kết quả đã được kiểm chứng theo thời gian dài cả trăm năm.

Quy luật cung – cầu

Quy luật cung – cầu nói rằng giá sẽ tăng khi cầu lớn hơn cung, và giá sẽ giảm khi cung lớn hơn cầu.

Đây là quy luật kinh tế cơ bản và cũng là nội dung chính của phương pháp mà Wyckoff sử dụng.

  • Cung > cầu = giảm giá (mất cân bằng)
  • Cung < cầu = tăng giá (mất cân bằng)
  • Cung = cầu = giá không đổi (cân bằng)
Quy luật cung - cầu
Hình 1: Quy luật cung – cầu trạng thái cân bằng

Hình 1 thể hiện khi cung cầu cân bằng, nghĩa là không xảy ra tình trạng thiếu hụt hay dư thừa cung, lượng cung vừa đủ thoả mãn cầu. Do đó phe mua và phe bán thoải mái giao dịch một cách hài lòng không gây sức ép làm thay đổi giá hay khối lượng.

Quy luật cung cầu: thiếu hụt nguồn cung
Hình 2: Mất cân bằng cung – cầu khi thiếu hụt nguồn cung

Trên hình 2, khi tình trạng mất cân bằng cung cầu xảy ra, tại mức giá P₁ thấp hơn mức giá cân bằng, người bán muốn cung cấp lượng hàng Q₁ và người mua muốn mua lượng hàng Q₂ > Q₁.

Kết quả là nguồn cung bị thiếu hụt một lượng bằng Q₂ – Q₁, lúc này giá sẽ chịu áp lực tăng vì người bán buộc phải tăng giá lên, hoặc tăng nguồn cung lên để quay trở lại điểm cân bằng.

Mất cân bằng cung cầu khi nguồn cung dư thừa
Hình 3: Mất cân bằng cung – cầu khi nguồn cung dư thừa

Hình 3 cho thấy tại mức giá P₁, người bán muốn cung cấp lượng hàng Q₁ và người mua muốn mua lượng hàng Q₂.

Kết quả là nguồn cung dư thừa một lượng bằng Q₂ – Q₁, giá sẽ chịu áp lực giảm xuống do người bán phải giảm nguồn cung hoặc giảm giá để thị trường cân bằng trở lại.

Chúng ta có thể đánh giá sự mất cân bằng cung cầu thông qua việc quan sát giá đóng cửa, biên độ giá (spread) và khối lượng giao dịch (volume).

VD: một thanh nến tăng có biên độ rộng với khối lượng lớn nghĩa là cầu > cung. Một thanh nến giảm có biên độ rộng với khối lượng lớn nghĩa là cung > cầu.

Trong phần 1 chúng ta đã học về đường xu hướng và kênh xu hướng, nếu xét về quy luật cung cầu thì đường xu hướng sẽ cho chúng ta biết ai là người đang kiểm soát thị trường.

  • Trong một kênh giá tăng, đường cầu đóng vai trò là đường hỗ trợ, lúc này ta có thể kết luận phe mua đang nắm quyền kiểm soát, cầu > cung.
  • Tương tự tại một kênh giá giảm, đường cung đóng vai trò là đường kháng cự, lúc này phe bán đang nắm quyền kiểm soát, cung > cầu.

Lưu ý:

Từ “cung” ở đây không phải là “lượng cung” hay “số lượng người bán”, và từ “cầu” cũng không phải là “lượng cầu” hay “số lượng người mua”.

Nghĩa là khi phe mua đông hơn phe bán, hoặc khi lượng cầu lớn hơn lượng cung không có nghĩa là giá sẽ tăng.

Chúng ta sẽ đi vào giải thích tại sao giá lại tăng / giảm ở cuối bài viết này.

Quy luật nguyên nhân – kết quả

Quy luật nguyên nhân – kết quả cho rằng thị trường không phải tự nhiên diễn ra như vậy mà tất cả đều có nguyên nhân xuất phát từ hành động của CO trong phạm vi giao dịch.

Quy luật này chỉ ra hai điều:

  • Thứ nhất, việc giá tăng hay giảm là do trước đó đã hình thành khu vực đi ngang. Nghĩa là sau một giai đoạn cân bằng giữa cung và cầu, thị trường sẽ trở nên mất cân bằng khiến giá thoát khỏi vùng cân bằng đó và đi vào xu hướng tăng hoặc giảm.
  • Thứ hai, nguyên nhân được xây dựng sẽ tỷ lệ thuận với kết quả. Nguyên nhân xây dựng càng nhiều sẽ tác động đến giá càng lớn, nguyên nhân xây dựng càng ít sẽ tác động đến giá càng nhỏ.
Xu hướng nào rồi cũng kết thúc và một nguyên nhân sẽ bắt đầu. Khi nguyên nhân kết thúc, một xu hướng mới lại sinh ra.

Phương pháp Wyckoff xoay quanh giải thích những điều này.

Xem ví dụ trên hình 4, giá Bitcoin phá ra khỏi vùng cân bằng và rơi vào trạng thái mất cân bằng trước khi đi vào vùng cân bằng tiếp theo.

Quy luật nguyên nhân kết quả
Hình 4: Quy luật nguyên nhân kết quả cặp BTC/USDT

Dựa trên quy luật này, ta có thể dự đoán mức giá kỳ vọng bằng cách xác định mức độ tiềm năng của một xu hướng được sinh ra từ phạm vi đi ngang trước đó.

Phạm vi đi ngang càng lâu thì khi giá thoát ra khỏi phạm vi đó, nó sẽ đi theo xu hướng càng dài.

Wyckoff sử dụng quy luật nhân quả và biểu đồ Point and Figure (PnF) để trả lời câu hỏi “giá đi được bao xa?”.

Ngoài PnF, ta cũng có thể sử dụng Fibonacci hay Harmonic để xác định target mà giá đạt được sau khi xây dựng xong nguyên nhân trong vùng đi ngang.

Như vậy, công việc của một nhà giao dịch là xác định xem phạm vi mà giá đi ngang là tích luỹ hay phân phối, sau đó tìm điểm vào lệnh và take profit tại nơi mà giá đi tới nhờ vào các công cụ tính target giá mà ta sẽ bàn trong các phần sau!

Quy luật nỗ lực – kết quả

Quy luật nỗ lực – kết quả chỉ ra rằng hành động của giá phải phản ánh bằng khối lượng giao dịch. Khối lượng đại diện cho nỗ lực, và biến động giá đại diện cho kết quả của nỗ lực đó.

Quy luật này cho thấy tầm quan trọng của giá và khối lượng.

Khi các nhà giao dịch lớn quan tâm đến một cổ phiếu nào đó, mức độ chú ý của họ sẽ được phản ánh qua volume giao dịch.

Sự tham gia của các nhà giao dịch lớn được nhận diện thông qua sự tăng lên của khối lượng.

Hài hoà và phân kỳ

  • Hài hoà: nếu nỗ lực và kết quả tương xứng với nhau, cho thấy dấu hiệu mạnh của chuyển động và khả năng cao giá sẽ tiếp diễn theo hướng trước đó.
  • Phân kỳ: nếu nỗ lực và kết quả không tương xứng, cho thấy dấu hiệu yếu của chuyển động và khả năng cao giá sẽ đảo chiều.

Bảng phân tích sự hài hoà và phân kỳ (tham khảo tài liệu VSA của Ruben): vui lòng xem tại chế độ desktop.


Diễn biến từng cây nến Chuyển động tiếp theo Diễn biến trong chuyển động giá Diễn biến giữa các sóng Khi chạm đến các mức quan trọng
Sự hài hoà Khối lượng cao, biên độ rộng Khối lượng cao ở cây nến tăng, đẩy giá tăng cao hơn Khối lượng cao trong một sóng đẩy Các sóng đẩy mạnh lên Khối lượng cao tại điểm phá vỡ
Khối lượng thấp, biên độ hẹp Khối lượng cao ở cây nến giảm, làm giá giảm thấp hơn Khối lượng thấp trong một sóng hồi Các sóng hồi yếu đi Khối lượng thấp, giá không phá vỡ
Sự phân kỳ Khối lượng cao, biên độ hẹp Khối lượng cao ở cây nến tăng nhưng không làm giá tăng tiếp Khối lượng thấp trong một sóng đẩy Các sóng đẩy yếu đi Khối lượng cao nhưng không phá vỡ
Khối lượng thấp, biên độ rộng Khối lượng cao ở cây nến giảm nhưng giá không giảm tiếp Khối lượng cao trong một sóng hồi Các sóng hồi mạnh lên Khối lượng thấp tại điểm phá vỡ

Chúng ta sẽ đi phân tích từng trường hợp!

Diễn biến từng cây nến

Quy luật nỗ lực kết quả tại từng cây nến
Hình 5: Quy luật nỗ lực kết quả tại từng cây nến

Các cây nến có nỗ lực và kết quả hài hoà khi cây nến có biên độ giá rộng và volume giao dịch cao hoặc biên độ hẹp có volume giao dịch thấp.

Ngược lại, sự phân kỳ xảy ra khi biên độ giá rộng có volume nhỏ hoặc biên độ giá hẹp có volume cao.

Các cây nến kế tiếp

Quy luật nỗ lực kết quả trong chuyển động giá
Hình 6: Quy luật nỗ lực kết quả trong chuyển động giá

Trong phần này, phạm vi phân tích của chúng ta rộng hơn, trong vài cây nến tiếp theo.

Nếu volume giao dịch cao tại cây nến tăng dẫn kết kết quả các cây nến tiếp theo cũng tăng theo, ta gọi đó là hài hoà.

Nhưng nếu volume giao dịch cao tại cây nến tăng mà dẫn đến kết quả các cây nến tiếp theo giảm, đó là sự phân kỳ.

Diễn biến trong một sóng chuyển động

Quy luật nỗ lực kết quả ở các cây nến tiếp theo
Hình 7: Quy luật nỗ lực kết quả ở chuyển động tiếp theo

Khi sóng đẩy (cùng chiều với xu hướng chính) có volume giao dịch tăng, và sóng hồi có volume giao dịch giảm, ta xác định có sự hài hoà.

Tương tự, nếu sóng đẩy có volume giao dịch giảm và sóng hồi có volume giao dịch tăng, ta có sự phân kỳ.

Diễn biến giữa các sóng

Để đo lường khối lượng được hình thành trong mỗi con sóng tăng hoặc giảm, chúng ta sử dụng chỉ báo Weis wave.

Sóng Weis giúp chúng ta đánh giá chính xác áp lực tăng giá và giảm giá giữa các sóng với nhau.

quy luật nỗ lực kết quả giữa các sóng
Hình 8: Quy luật nỗ lực kết quả giữa các sóng với nhau
  • Sự hài hoà xuất hiện khi sóng đẩy đi kèm với volume giao dịch cao hơn sóng đẩy trước đó (các con sóng đẩy dần lên), và sóng đẩy có volume lớn hơn so với sóng điều chỉnh.
  • Sự phân kỳ xảy ra khi các sóng đẩy có volume giao dịch thấp dần, và các sóng hồi có volume giao dịch tăng dần. Các sóng đẩy cũng có khối lượng thấp hơn so với các sóng hồi.

Một vấn đề cần lưu ý là không phải tất cả khối lượng giao dịch ở trong sóng tăng đều thuộc về bên mua cũng như không phải tất cả khối lượng giao dịch trong sóng giảm đều thuộc bên bán.

Tại mức giá quan trọng

Khi giá tiệm cận với mức kháng cự/hỗ trợ và sau đó phá vỡ, ta xác định xem có sự hài hoà giữa nỗ lực và kết quả trong chuyển động phá vỡ đó hay không.

Trong trường hợp giá đang tăng và tiến đến mức kháng cự:

  • Nếu volume giao dịch cao tại mức giá phá vỡ mà giá phá vỡ thành công, đó là sự hài hoà. Lượng volume này hấp thụ tất cả các lực bán làm giá tăng tiếp.
  • Nếu volume tăng nhưng giá phá vỡ giả và quay đầu thì đó là sự phân kỳ, tất cả volume của phe mua đã bị phe bán đánh bại khiến giá đảo chiều ngược lại.
quy luật nỗ lực kết quả khi chạm mức quan trọng
Hình 9: Quy luật nỗ lực kết quả khi chạm mức quan trọng

Hành động cao trào (buying/selling climax) xảy ra khi volume tăng mạnh trong một con sóng và sau đó xu hướng dừng lại:

  • Cao trào mua (quá mua): Trong một xu hướng tăng, một chuyển động tăng mạnh thường kết thúc với sự xuất hiện của khối lượng lớn.
  • Cao trào bán (quá bán): Trong một xu hướng giảm, một chuyển động giảm mạnh thường kết thúc với sự xuất hiện của khối lượng lớn.

Tại sao giá di chuyển?

Tại sao giá lại tăng? Tại sao giá lại giảm? Đây là câu hỏi ở mục Quy luật cung cầu, và câu trả lời như sau:

Do sự chủ động của nhà giao dịch

Chìa khoá khiến cho giá di chuyển nằm ở sự chủ động của nhà giao dịch, thể hiện qua các lệnh market.

Nhà giao dịch đặt lệnh market với sự gấp gáp, là động cơ tạo nên sự bắt đầu của chuyển động.

Trong khi lệnh limit chỉ thể hiện ý định của nhà đầu tư. Phe bán thiết lập lệnh chờ bán trong cột Ask để tạo nguồn cung, phe mua thiết lập lệnh chờ mua trong cột Bid để tạo nguồn cầu.

Tại sao giá tăng, giảm
Hình 10: Sổ lệnh tại sao giá di chuyển?

Nguồn cung và nguồn cầu này chính là thanh khoản của tài sản đó trên thị trường, được thể hiện trong sổ lệnh (order book).

  • Để giá tăng, phe mua phải mua tất cả các lệnh chờ bán được đặt sẵn và tiếp tục mua mạnh để đẩy giá lên bằng các lệnh market. Các lệnh mua thụ động như lệnh limit sẽ làm xu hướng giảm chững lại nhưng không thể đẩy giá lên.
  • Để giá giảm, phe bán phải khớp hết tất cả các lệnh chờ mua được đặt sẵn và tiếp tục bán để đẩy giá xuống bằng cách lệnh market. Các lệnh bán limit sẽ làm đà tăng chững lại, nhưng không thể đẩy giá xuống.

Do sự kiệt sức của phe đối diện

Giá cần sự quyết liệt để di chuyển, nhưng cũng rất thú vị khi việc thiếu quan tâm hay kiệt sức từ phe đối diện cũng tạo điều kiện thuận lợi cho điều này.

  • Việc phe bán bị kiệt sức khiến nguồn cung bị rút đi, nghĩa là phe mua dễ dàng hấp thụ nguồn cung trong cột Ask hơn khiến giá tăng lên chỉ với một chút lực cầu.
  • Nếu phe mua kiệt sức khiến nguồn cầu bị cạn kiệt, có ít lệnh mua hơn đặt trong cột Bid nên chỉ cần một ít lực cung cũng có thể làm giá giảm xuống dễ dàng.

Trên hình 10, chúng ta thấy có sự mất cân bằng giữa lệnh giới hạn mua và lệnh giới hạn bán (thể hiện qua số lượng lệnh đặt tại các mức giá).

→ Đây là dấu hiệu của phe mua đang kiệt sức, tuy nhiên không có nghĩa là giá sẽ giảm vì thực chất giá chỉ đang tạo điều kiện cho việc giảm xảy ra dễ dàng hơn.

Khi phe mua đang suy yếu, nếu phe bán không tận dụng được lợi thế và phe mua chủ động xuất hiện, giá vẫn có thể tăng lên.

Khi sự kiệt sức xuất hiện ở mức giá quan trọng, có thể khiến cho giá đảo chiều.

  • Khi giá giảm xuống đường hỗ trợ sau một đợt đảo chiều giảm mạnh, áp lực bán đã vơi bớt thể hiện ở volume giao dịch nhỏ. Phe bán không còn quan tâm đẩy giá xuống nữa, hoặc họ đã cạn kiệt nguồn cung, lúc này phe mua chủ động xuất hiện khiến giá đảo chiều tăng lên.
  • Tương tự khi giá tăng lên mức kháng cự sau một đợt tăng mạnh, lực mua yếu đi thể hiện qua volume giao dịch nhỏ đi. Lúc này phe bán chủ động xuất hiện khiến giá đảo chiều giảm ngược lại.

Khối lượng tăng lên hoặc giảm xuống bất ngờ là tín hiệu quan trọng giúp ta xác định có thể giá sắp đến hồi kết thúc.

Ví dụ về cặp tiền USD/CHF:

Ví dụ quy luật nỗ lực - kết quả USD/CHF
Hình 11: Ví dụ quy luật nỗ lực – kết quả USD/CHF

Trên hình 11, tại hai swing tăng được đánh dấu, ta thấy giá tăng đi kèm khối lượng giảm dần cho đến khi chạm vào kháng cự.

→ Điều này cho thấy đang xảy ra sự phân kỳ nỗ lực kết quả, đồng thời tại vị trí cận biên phe mua đang thiếu hứng thú với việc đẩy giá lên cao hơn (hoặc có thể họ bị kiệt sức).

Sau đó phe bán chủ động xuất hiện làm giá giảm một cách dễ dàng xuống biên dưới.

Việc đánh giá nỗ lực – kết quả và nguồn cung cầu tại các vùng cận biên giúp chúng ta biết được cú phá vỡ là giả hay là thật.

Đây chính là kỹ thuật đọc tape reading mà chúng ta sẽ học ở các phần kế tiếp.

5/5 - (3 votes)


LỰA CHỌN SÀN GIAO DỊCH FOREX UY TÍN

Logo exness
FOREX
logo hfm
FOREX
CHỨNG KHOÁN
CHỨNG KHOÁN
Jack Auth

Mình là Jack - một blogger, youtuber về lĩnh vực giao dịch tài chính. Mình lập ra group Banktraps chuyên về hướng dẫn giao dịch bằng phương pháp SMC | ICT và Wyckoff và là nơi anh em trader trao đổi kiến thức cùng nhau giao dịch.

Leave a Comment

Generic selectors
Exact matches only
Search in title
Search in content
Post Type Selectors
post
page
Filter by Categories
ICT
Nguyên Lý Sóng Elliott
SMC
Tâm lý giao dịch
Trading Hub 4.0
Wyckoff