Volume Profile là chỉ báo hữu ích về Thuyết đấu giá, mà thuyết đấu giá tương đồng với Quy luật cung – cầu, quy luật quan trọng nhất của Wyckoff.
Trong phần trước chúng ta đã tìm hiểu về Volume Profile và ứng dụng của nó. Phần này sẽ đi sâu hơn về cách sử dụng VP kết hợp với phương pháp Wyckoff.
Nguyên tắc giao dịch với vùng giá trị VA
Nguyên tắc 80%
Đây là nguyên tắc trong Market Profile và cũng được áp dụng với Volume Profile do sự tương đồng về lý thuyết.
Theo nguyên tắc 80%, nếu giá đi vào trong một VA và nằm ở bên trong ít nhất 2 cây nến thì có 80% khả năng giá sẽ đi xuyên qua toàn bộ vùng VA đó (từ VAH đến VAL hoặc ngược lại).
Sử dụng Session Volume Profile, nếu giá nằm bên ngoài VA phiên hôm qua thì khi giá chui lại vào VA phiên hôm qua và nằm trong đó ít nhất 60 phút (2 cây nến 30 phút), giá sẽ có 80% cơ hội đi xuyên qua toàn bộ VA đó.
Cách hoạt động của quy tắc 80%:
- Giá mở cửa bên ngoài VA (trên VAH hoặc dưới VAL).
- Quay lại vào vùng VA.
- Duy trì bên trong VA ít nhất 2 đơn vị thời gian (2 nến).
- Xác suất 80% là giá sẽ đi hết vùng VA (ví dụ: từ VAL lên VAH hoặc ngược lại).
Áp dụng Session VP vào cặp tiền tệ USDJPY khung m30:
Có 6 phiên volume profile tương ứng với 6 ngày liên tiếp.
Trong đó ngày 2, 3 giá đã từ chối vùng giá trị của hôm trước ngay khi chạm vào VAL. Ngày 4, 5, 6 giá đã chấp nhận giá trị của ngày hôm trước và quay lại vào VA.
Chỉ có ngày 4, 6 giá tuân theo quy tắc 80% Volume Profile. Ngày 5 giá không tuân theo quy tắc này.
Mặc dù ngày 5 giá không đến được VAH nhưng giá đã đi ít nhất đến POC của ngày 4 rồi mới đảo chiều.
Nguyên tắc 80% có độ chính xác cao hơn khi giá đi sideway.
Tương tác với VA
Một vùng VA có ba mức giá quan trọng mà giá sẽ tương tác: VAH, POC, VAL.
Từ nguyên tắc 80%, chúng ta phát triển thành các trường hợp khác nhau khi giá tương tác với một VA như hình dưới.

Khi giá đi vào trong một VA, mục tiêu gần nhất là POC:
- Nếu giá vượt qua POC, mục tiêu tiếp theo là vùng cực đối diện.
- Nếu giá bị chặn lại bởi POC, giá sẽ quay trở lại và thoát khỏi VA.
Khi giá thoát khỏi một VA:
- Nếu giá quay lại test VA và đi vào thành công, lặp lại quy trình trên.
- Nếu giá quay lại test VA và bị từ chối, giá sẽ tiếp diễn xu hướng và tìm đến vùng VA khác. Quy trình trên được lặp lại.
Ví dụ về cặp NZDUSD áp dụng Session Volume Profile khi giá sideway:

- Quan sát ba vùng VA của 3 ngày liên tiếp. Ngày số 2 có hai lần giá đi vào VA của ngày số 1 và giá đi đến biên đối diện của VA ngày 1 (nét đứt).
- Ngày số 3 giá đi vào VA của ngày số 2 và giá đi đến biên đối diện của VA ngày 2 (nét đứt).
Trong ví dụ trên, chúng ta thấy tại ngày 1 giá đi lên đi vào VA của ngày trước đó và bị chặn lại bởi POC rồi đảo chiều.
Ví dụ cặp CHFUSD áp dụng Session Volume Profile trong xu hướng tăng:
Ngày 2 và 4 giá tuân theo quy tắc 80%, ngày 3 giá không tuân theo quy tắc này do ngày 3 giá bị chặn lại bởi POC của ngày 1.
Một nhà phân tích Wyckoff sẽ không chỉ đơn giản giao dịch đơn thuần dựa trên chỉ báo Volume Profile. Họ sẽ nhận ra tại đầu phiên ngày thứ 4, giá có một sự kiện Shakeout của một TR nhỏ, vị trí này hợp lưu với VAL của ngày 3.
Áp dụng quy tắc 80% Volume Profile ta sẽ biết giá có 80% cơ hội đi lên VAH của ngày 3, công thêm sự kiện Shakeout tiềm năng ta có thể yên tâm vào một lệnh Buy tại đây.
Đường VWAP là gì?
VWAP (Volume Weight Average Price) – Đường trung bình giá có trọng số khối lượng. Khối lượng giao dịch mức giá phía trên VWAP bằng với khối lượng giao dịch phía dưới nó.
Như vậy VWAP là một đường cân bằng quan trọng, khi giá chạm vào VWAP thì khả năng tăng giá và giảm giá là như nhau.
Tương tự với POC, trong thị trường cân bằng, mức giá nằm dưới VWAP là rẻ và mức giá nằm trên VWAP là đắt.
Khi thị trường trở nên mất cân bằng, điều này không còn đúng nữa vì giá sẽ đẩy mạnh theo một chiều vượt qua VWAP. Lúc này VWAP trở thành đường kháng cự hoặc hỗ trợ đỡ giá di chuyển theo xu hướng.

Trên hình 5, ở giai đoạn đầu giá đi ngang trong vùng giá trị, đường VWAP thể hiện như một đường tích luỹ vị thế của CO.
Sau một pha Spring tiềm năng, giá quay trở lại vùng giá trị và bắt đầu mất cân bằng và hình thành một xu hướng tăng. Lúc này VWAP thể hiện tốt vai trò là một đường hỗ trợ giá.
Kết hợp với Wyckoff
Chúng ta sẽ cần đến sự hợp lưu của Volume Profile, VWAP và các sự kiện Wyckoff.
Mỗi khi phát hiện giá đang đi ngang, hãy xác định độ dài và khung thời gian của range Wyckoff đó để quyết định sử dụng Volume Profile và VWAP nào.
- Với giao dịch intraday, sử dụng Session VP và Session VWAP.
- Với giao dịch dài hạn, sử dụng VP tuần và VWAP tuần.
Hoặc chúng ta cũng có thể sử dụng Fixed Range Volume Profile cho mỗi cấu trúc Wyckoff.
Một VA có độ rộng gần bằng với TR Wyckoff là một VA lý tưởng.
Sau khi áp dụng VP, VWAP vào biểu đồ. Các bước phân tích tiếp theo:
- Bối cảnh: Phe nào đang kiểm soát? Giá đi ngang hay có xu hướng?
- Kịch bản: Nếu X thì Y
- Vị thế: Entry, Stoploss, Take profit.
Bối cảnh
Giá đi ngang
Giá đi ngang nghĩa là cung – cầu đang cân bằng, chúng ta không chắc phe nào sẽ chiến thắng nên tốt nhất hãy:
- Đợt một đợt rũ bỏ (giá thoát ra khỏi vùng cân bằng và quay trở lại).
- Giao dịch tại vùng biên (mua thấp bán cao).
Giai đoạn này chính là phase B, C trong Wyckoff. Hãy luôn ưu tiên các sự kiện Spring/UTAD tiềm năng.
Giá đi trong một xu hướng
Nếu đợt rũ bỏ thất bại, tức là giá trở nên mất cân bằng và không quay trở lại vùng giá trị, chúng ta đã biết phe nào đang nắm quyền kiểm soát nên tốt nhất hãy giao dịch thuận xu hướng.
- Phá vỡ khỏi vùng cân bằng: giá sẽ tìm kiếm điểm test lại sau cú phá vỡ (Phase D Wyckoff).
- Đi xa khỏi vùng cân bằng: giá sẽ đi trong một kênh giá với các đỉnh đáy cao đần hoặc thấp dần (Phase E Wyckoff).
Kịch bản
Wyckoff có tính linh hoạt cao, không phải dạng công thức nên chúng ta cần đưa ra kịch bản: Nếu là X thì tiếp theo có thể là Y.
Nghĩa là tất cả các dấu vết mà giá để lại cho chúng ta cần được xác nhận bởi chuyển động sau đó.

Giả sử khi giá nằm ở giữa VA, ta cần có hai kịch bản:
- Nếu giá vừa tạo Spring tiềm năng thì ta sẽ đợi cú test LPS để mở vị thế mua.
- Nếu giá đã tạo xong LPS thì ta sẽ đợi giá lên biên trên để đánh giá.
Và khi giá lên tới biên trên, ta lại xây dựng hai kịch bản:
- Nếu giá phá vỡ biên (SOS tiềm năng) thì ta sẽ đợi cú test BU tại VAH hoặc POC để mở vị thế mua.
- Nếu giá quay trở lại vào trong VA (UTAD tiềm năng) thì ta đợi cú test LPSY để mở vị thế bán.
Hãy đánh giá các khả năng mà thị trường có khả năng hình thành, và đổi bias khi giá không đi theo kịch bản ban đầu.
Mở vị thế
Nến SBar là gì?
Khi đã xây dựng xong kịch bản, điều cần làm là đợi một cây nến chủ động vượt qua các mức quan trọng để mở vị thế.
Các mức quan trọng gồm:
- LVN: nút khối lượng nhỏ nằm trong range là mức cản mạnh mà giá cần vượt qua trước khi vào lệnh. Khu vực nằm ngoài VA (bên dưới VAL hoặc bên trên VAH) cũng có thể coi là LVN.
- VWAP, POC: Đây là hai mức giá giúp xác định phe nào đang kiểm soát thị trường → chờ đợi giá vượt qua để biết phe nào chiến thắng.
Cây nến chủ động là nến SBar được tạo ra bởi CO, đẩy giá theo một hướng vượt qua các mức kể trên, có đặc điểm:
- Biên độ lớn, giá đóng cửa nằm ở gần đỉnh nến (nếu tăng) hoặc ở gần đáy nến (nếu giảm).
- Khối lượng giao dịch tương đối lớn.
- Xuất hiện sau các vị trí quan trọng như Spring, LPS, Test…
Nến chủ động tăng được gọi là SOSBar, nến chủ động giảm được gọi là SOWBar.
Với công cụ hỗ trợ Footprint + Delta chúng ta có thể đánh giá cây nến SBar chính xác hơn.
Entry
Việc đặt lệnh limit sẽ không phù hợp do ta không biết chắc liệu kịch bản đưa ra có đúng hay không.

Trên hình nếu chúng ta đặt lệnh limit, rất có thể giá sẽ đi xuống vì pha Spring tiềm năng dự đoán lúc đầu thực chất là SOW, và giá chỉ đang đi lên tạo LPSY rồi tiếp tục xu hướng giảm.
Lệnh Buy Stop sẽ tránh được khả năng này:
- Trong trường hợp mua lên, chúng ta có thể đặt một lệnh Buy Stop sau cây nến SOSBar.
- Trường hợp bán xuống, ta đặt lệnh Sell Stop sau cây nến SOWBar.
Stoploss
Nến Sbar là cây nến chủ động được tạo ra bởi CO, họ sẽ bảo vệ vị thế của mình trong trường hợp giá đi ngược lại với bias của họ.

Vị trí đặt stoploss thích hợp:
- Dưới cây nến SOSBar nếu buy, hoặc trên cây nến SOWBar nếu sell.
- Lệnh dừng lỗ sẽ an toàn hơn khi được bảo vệ bởi cực trị VAH/VAL, hoặc POC, VWAP.
Như vậy sẽ có một số mức cắt lỗ tuỳ vào trường hợp cụ thể, bạn cần cân bằng tỷ lệ R:R ở mức chấp nhận được. Trước hết hãy xây dựng cho mình một chiến lược quản lý rủi ro phù hợp.
Take Profit
Một số khu vực chốt lời hiệu quả:
- Nến cao trào: đây là nến xuất hiện khi quá mua (SC) hoặc quá bán (BC), báo hiệu dấu hiệu dừng xu hướng trước đó và thay đổi hành vi.
- Các VA trong quá khứ: giá có xu hướng di chuyển đến khu vực có khối lượng cao gần nhất vì đó là nơi phe mua và phe bán từng chấp nhận trả giá, rất có thể trong tương lai họ cũng chấp nhận những khu vực đó.
- Ngoài ra có thể áp dụng quy luật nguyên nhân – kết quả sử dụng biểu đồ PnF tính target giá đi tới.

Ví dụ thực tế
Ví dụ 1: GBPUSD khung H1
Phân tích bối cảnh:
- Giá đi ngang sau một đợt giảm sâu (có thể là tích luỹ hoặc tái phân phối). Áp dụng Fixed Range Volume Profile và Session VWAP.
- Nhận thấy tại khu vực khoanh tròn, giá có đợt rũ bỏ khỏi đường cầu Wyckoff (đồng thời cũng là VAL) và quay trở lại vào VA.
- Nhìn Volume Weis thấy dấu hiệu cạn cung (Weis là volume cộng dồn thường được sử dụng trong thị trường khó phân tích volume truyền thống như forex, với cách sử dụng tương tự).
Kịch bản:
- Nếu đây là Spring, giá sẽ tăng vượt qua biên trên. Có thể đợi một cú test để vào lệnh hoặc vào lệnh ngay sau khi có SBar vượt lên trên VWAP.
- Nếu giá đi lên và không vượt qua được VAH, có thể giá sẽ đảo chiều và trở thành UTAD tiềm năng.
Phân tích 5 vị thế Buy Stop sau cây SBar trong hình 12:
- Vị thế #1: nằm trên VWAP, chưa có test.
- Vị thế #2: nằm trên VWAP/POC, đã có test.
- Vị thế #3: nguồn cung lớn, nằm dưới VWAP, chưa có test.
- Vị thế #4: nằm trên VWAP, sau cú test lại nguồn cung lớn trước đó.
- Vị thế #5: nằm trên VWAP/POC, đã có test tại #4, cây Sbar mạnh.
Tại vị thế 1 & 2 giá không vượt qua được VAH nên có nguy cơ trở thành LPSY (Tái phân phối không có UTAD). Tuy nhiên sau đó giá giảm xuống không vượt qua được VAL nên kịch bản tích luỹ vẫn còn khả thi.
Không phải lúc nào chúng ta cũng có entry đẹp như vị thế 4 & 5.
Đôi lúc vị trí 5 sẽ không có test trực tiếp mà giá lên thẳng luôn do cú test tại #4 đã làm cạn cung.
Việc chờ vị thế đẹp có thể khiến nhà giao dịch bỏ lỡ cơ hội, tuy nhiên vào vị thế sớm có thể tăng rủi ro.
Để xác định chính xác cây nến SBar, có một trường phái giao dịch dựa trên data như Footprint, Bookmap.
Ví dụ 2: ETHUSDT khung m15
Phân tích bối cảnh:
- Sau pha Spring thất bại, giá không thể tăng tiếp khi gặp POC phiên ngày hôm trước, gợi ý cho sự kiện UTAD tiềm năng.
- Cây nến SOWBar quay lại vào trong TR nhưng chưa vượt qua đường VWAP, khiến chúng ta chưa thể vào lệnh sell tại đây.
- Sau đó giá giảm sâu xuống vượt qua biên dưới TR với volume tăng dần tạo SOW tiềm năng.
Kịch bản:
- Chờ giá hồi lại tạo LPSY để mở vị thế sell (xác suất cao).
- Trường hợp giá tạo Spring, ta sẽ đợi giá test lại để mở vị thế buy (xác suất thấp).
Mở vị thế:
Tại vị trí SOW, giá rút râu với khối lượng lớn và hồi lên giống như một cú Spring.
Tuy nhiên khi chạm vào VWAP hợp lưu với VAL ngày hôm trước, nến rút râu dài với volume lớn thể hiện sự từ chối vùng giá trị.
Sau đó giá test lại mức hợp lưu thêm một lần và tiếp tục từ chối bởi vài cây nến SBar giảm. Ta có thể mở vị thế Sell Stop sau cây nến SBar rõ ràng. Take profit tại POC trong quá khứ.
Nhận xét: Trong ví dụ trên, khi phân tích dựa trên Footprint phát hiện ra bộ nến Hấp thụ + Chủ động (SBar mạnh), chúng ta có thể vào lệnh ngay sau cây nến SBar đó mà không cần đợi vượt xuống VWAP.
Hình 14 gồm 4 cây nến đảo chiều: 1 cây hấp thụ mua + 2 cây kiệt sức mua + 1 cây chủ động bán.
Công cụ Footprint dành cho thị trường crypto được sử dụng tại Coinmap.tech. Banktraps sẽ có bài viết trong thời gian tới.
Ví dụ 3: XRPUSDT khung H8
Bối cảnh:
- Đây là khung thời gian lớn nên chúng ta áp dụng Volume Profile tuần.
- Phát hiện giá đi ngang có sự kiện Spring tiềm năng hợp lưu với POC của tuần trước.
Kịch bản:
- Sau cú Spring, giá tạo cây nến SBar mạnh mẽ, kịch bản đầu tiên là giá về test lại cây SBar và bật lên.
- Kịch bản thứ hai, giá test và kill luôn cây SBar sau đó đi xuống (Failed Spring). Lúc này đợi giá hồi lại LPSY để vào lệnh Sell Stop.
Có hai vị thế Buy stop được mở tại đây:
- Vị thế #1 đặt lệnh Stop sau cây nến Sbar đầu tiên (chưa có test).
- Vị thế #2 đợi cú test và xuất hiện SBar mới đặt lệnh.
Cả hai vị thế này đều thành công và giá đi thẳng tới vị trí quá mua (vượt qua đường cung kênh giá tăng).
Vị thế #2 an toàn hơn do xuất hiện sau một đợt kiểm tra lại nguồn cung. Tuy nhiên đôi lúc thị trường không thực hiện những cú kiểm tra như vậy.











Cmas ơn bài viểt hữu ích ạ!
Mình đánh giá cao công sức biên soạn cô đọng, đầy đủ , và tinh thần chia sẻ vô vị lợi cho cộng đồng về pp Wyckoff của Ad thông qua 11 bài viết chất lượng rất cao. Cảm ơn Ad rất nhiều.
series này vẫn còn, mình sẽ viết tiếp sau
Cảm ơn anh ạ