Wyckoff Phần 5: Tổng hợp 7 mẫu hình tích luỹ Wyckoff thường gặp

Wyckoff

Như đã học trong Cấu trúc tích luỹ, để hấp thụ nguồn cung và đẩy giá đi lên thành công, CO cần đảm bảo giá sẽ đi lên theo con đường ít cản trở nhất.

Wyckoff nhận ra cách làm của CO là tạo ra các hành động dẫn dụ công chúng bán hàng ra hoặc khiến họ chạm dừng lỗ các vị thế mua.

Cấu trúc tích luỹ có nhiều hình dạng và biến thể khác nhau, bài viết này sẽ tổng hợp cho bạn đọc các mẫu hình phổ biến.

Cấu trúc mô hình tích luỹ Wyckoff

Ôn lại một chút về các phase và sự kiện của cấu trúc tích luỹ:

Phase A: Chặn xu hướng giảm trước đó

  • Một sự kiện quá bán SC được đỡ giá bởi CO khiến giá hồi lại mức AR.
  • Kẻ phạm vi TR gồm hai đường song song đi qua SC và AR.
  • Sau lần CHoB thứ ba tại ST, giá chuyển sang đi ngang, volume giảm dần.

Phase B: Hình thành nguyên nhân

  • Giá kiểm tra liên tục biên trên (UA) và biên dưới (ST).
  • CO hấp thụ phần lớn nguồn cung, volume giảm dần về cuối.
  • Phase B thường phát triển lâu nhất, nếu phase B ngắn là dấu hiệu của sự gấp rút.

Phase C: Kiểm tra (hoặc rũ bỏ)

  • CO rũ bỏ nguồn cung còn lại bằng cách đẩy giá xuống dưới hỗ trợ (Spring hoặc LPS) để kiểm tra.
  • Sự kiện rũ bỏ không nhất thiết phải chạm vào đường hỗ trợ.
  • Nếu CO không rũ bỏ được nguồn cung (volume vẫn lớn), CO sẽ kéo dài quá tình hấp thụ hoặc từ bỏ để giá chuyển thành tái phân phối.

Phase D: Xu hướng tăng trong TR

  • Sau khi rũ bỏ thành công, giá tăng lên nhanh chóng phá qua Creek (SOS), rồi hồi về test (BU).
  • Giá nên nằm phía trên cấu trúc và không lập tức quay lại, nếu không sẽ trở thành UTAD giảm giá.
  • Các điểm vào lệnh gồm LPS và BU có volume nhỏ.

Phase E: Xu hướng tăng ngoài TR

  • Giá đi trong một kênh giá tăng với các đỉnh (SOS) và đáy (LPS) cao dần.
  • Điểm vào lệnh thích hợp là các LPS có volume giảm.
  • Điểm chốt lời cuối cùng là khi xảy ra quá mua hoặc giá đạt target PnF.

Các mẫu hình và biến thể của tích luỹ

Cấu trúc tích luỹ có Spring và không có Spring đã đề cập trong phần trước khá dễ nhận diện. Tuy nhiên không phải lúc nào thị trường cũng tạo ra mô hình như chúng ta mong đợi.

Ngoài các trường hợp “sách giáo khoa”, Wyckoff có một số hình thái khác.

Đa số các hình dạng tích luỹ khác biệt đều là những trường hợp giá không nằm gọn trong TR thông thường.

Việc nghiên cứu các biến thể là không cần thiết vì nó rất khó để phát hiện.

Sẽ rất sai lầm khi học thuộc mô hình một cách máy móc, nhưng nếu có thời gian hãy bật lịch sử biểu đồ và xem lại tất cả các cấu trúc tích luỹ để luyện tập.

Khi gặp một cấu trúc không tuân theo Trading Range thông thường, chúng ta có thể nghi ngờ và áp dụng biến thể để dự phóng phase C tiềm năng dựa theo ba quy luật Wyckoff.

Tích luỹ loại 1: Có Spring

Cấu trúc tích luỹ có Spring
Hình 1: Cấu trúc tích luỹ có Spring

Đây là dạng mẫu hình tích luỹ phổ biến dễ nhận biết có tên gọi Accumulation with Spring action. Đặc điểm:

  • Xem lại dấu hiệu nhận biết tích luỹ thông thường tại phần 4.
  • Chúng ta sẽ nghiên cứu sâu hơn về cách nhận biết cấu trúc tích luỹ trong các phần tới.

Ví dụ về cấu trúc tích luỹ với Spring cặp ADA/USDT:

Cấu trúc tích luỹ với Spring đồng ADA
Hình 2: Cấu trúc tích luỹ với Spring đồng ADA
  1. Volume giảm dần ở nửa đầu TR, sau đó tăng dần về cuối. Đây là đặc trưng khối lượng thường thấy của cấu trúc dạng này.
  2. Tại ST phase B thứ hai, có lực cầu đỡ mạnh (khoanh tròn màu xanh). Vị trí này dễ bị nhầm với Spring. Tuy nhiên sau khi giá tăng lên ta thấy spread giảm dần và volume nhỏ cho thấy phe mua không hứng thú mua tiếp diễn.
  3. Sau đó giá giảm mạnh xuống với volume cao, thể hiện ý đồ bán chủ động của CO kích hoạt toàn bộ stoploss của phe mua trong TR.
  4. Vị trí này dễ bị nhầm với SOW của cấu trúc phân phối, nhưng đây là là Spring vì ngay sau đó giá lập tức quay trở lại TR và pha test Spring volume nhỏ cho thấy phe bán đã yếu thế.
  5. Giá đi lên vượt qua Creek với những cây nến tăng mạnh mẽ. Vị trí mở vị thế là cú test lại Creek với volume giảm (LPS).

Tích luỹ loại 2: Không có Spring

Cấu trúc tích luỹ LPS
Hình 3: Cấu trúc tích luỹ với LPS

Cũng là một dạng cấu trúc tích luỹ thường gặp. Đặc điểm:

  • Đặc trưng về volume giao dịch tương tự như loại 1.
  • Cấu tạo phase C không có Spring, giá không đi xuống chạm vào biên dưới do lực cung đã cạn kiệt.

Ví dụ về sự hấp thụ nguồn cung cổ phiếu WDC mà không có Spring:

Cấu trúc tích luỹ không Spring cổ phiếu WDC
Hình 4: Cấu trúc tích luỹ không Spring cổ phiếu WDC
  1. Khối lượng giao dịch tại PS cao nhưng giảm xuống tại SC và ST cho thấy phe bán đang kiệt sức.
  2. Cấu trúc này thể hiện phe mua đang hấp thụ nguồn cung ở mức giá bên dưới PS khi giá nằm ở dưới PS một thời gian với khối lượng giảm dần, sau đó đột ngột tăng lên với cây nến mạnh mẽ.
  3. Giá tăng lên test biên trên TR với những cây nến tăng mạnh cùng volume tăng cao cho thấy sự kiểm soát của phe mua.
  4. Phát hiện ra LPS tiềm năng tại phase C khi swing giảm xuống có khối lượng giảm dần. Điểm LPS này cũng có mức giá thấp hơn PS, nơi mà CO hấp thụ nguồn cung trước đó, gợi ý rằng đây là một cú test nguồn cung.
  5. Ta có thể vẽ một đường Creek tại đây sau khi giá tăng lên từ LPS tiềm năng với khối lượng tăng cao. Điểm vào lệnh sau cây nến tăng mạnh có giá đóng cửa sát biên trên.

Ví dụ trên cho thấy sự quan trọng của PS. Việc phát hiện ra CO muốn hấp thụ dưới mức giá của PS rất quan trọng để xác định bias.

Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu sang các mẫu hình tích luỹ khác với mục đích tham khảo.

Nguyên nhân xảy ra các biến thể có thể do các yếu tố tin tức hoặc sự đánh giá sai nguồn cung tiềm tàng của CO, khiến cho việc hấp thụ không xảy ra như mong đợi và giá phải tìm đến các vùng TR cục bộ thay vì hấp thụ tại TR chính.

Biến thể loại 1: Mô hình vai đầu vai ngược

Mô hình tích luỹ vai đầu vai
Hình 5: Mô hình tích luỹ vai đầu vai

Đây là mô hình đảo chiều quen thuộc head and shoulders. Tuỳ vào độ dài của ST phase B mà có một số tên gọi khác như mô hình cốc tay cầm, chén thánh,… Đặc điểm:

  • Giá suy yếu ngay từ phase A khi không có lực cầu khiến phase B giảm xuống sâu hơn mức thông thường.
  • Biên dưới của TR được kẻ qua điểm thấp nhất của cấu trúc thay vì SC.
  • ST phase B nằm trong một cấu trúc cục bộ bên dưới đường hỗ trợ kẻ từ SC.
  • LPS phase C có thể là một cú rũ bỏ của cấu trúc cục bộ bên trên.

Ví dụ về cặp NZD/USD với mô hình tích luỹ vai đầu vai ngược:

Mô hình tích luỹ vai đầu vai cặp NZD/USD
Hình 6: Mô hình tích luỹ vai đầu vai cặp NZD/USD
  1. Giá không tôn trọng TR được tạo ra bởi SC & AR mà giảm mạnh phá qua biên dưới đi vào phase B, sau đó hình thành cấu trúc tích luỹ cục bộ có volume giảm dần về cuối (Local LPS có volume thấp).
  2. Giá phá qua TR cục bộ và đi lên test lại ST biên trên, sau đó giảm xuống tạo ra một pha shakeout qua một đường biên kẻ từ SC cho thấy đây là một LPS tiềm năng.
  3. Tại LPS tiềm năng, volume giảm mạnh chứng tỏ nguồn cung đã cạn kiệt, cây nến tăng mạnh mẽ xuất hiện với volume tăng cao gợi ý cho việc mở vị thế mua.

Biến thể loại 2: Mô hình suy yếu tiếp diễn

Cấu trúc tích luỹ mô hình chiếc nêm giảm
Hình 7: Cấu trúc tích luỹ mô hình chiếc nêm giảm

Mẫu hình này có tên gọi Continuous Weakness Trading Range hoặc mô hình nêm giảm. Đặc điểm:

  • Mô hình cho thấy sự yếu kém tiếp diễn của lực cầu khi giá bị nén lại trong một hình nêm giảm.
  • CHoB thứ ba được tạo ra sau khi giá giảm mạnh qua SC và giá không quay trở lại được biên trên, khiến TR không vẽ được theo cách thông thường.
  • Sự hấp thụ xảy ra trong chiếc nêm.
  • Lực cầu xuất hiện sau khi breakout ra khỏi nêm đẩy giá nhanh chóng đi lên biên trên.

Ví dụ về cấu trúc tích luỹ mô hình hai đường hội tụ chỉ số SP500:

Cấu trúc tích luỹ mô hình nêm giảm SP500
Hình 8: Cấu trúc tích luỹ mô hình nêm giảm SP500
  1. Giá đi trong một hình nêm giảm được tạo bởi hai đường hội tụ gồm: đường cầu đảo ngược và đường cung xuôi.
  2. Giá nén lại trong nêm, với volume đỏ chiếm phần lớn. Đến cuối nêm và khi breakout lên khỏi nêm, volume xanh mới xuất hiện.
  3. Các LPS được tạo ra với volume nhỏ cho thấy sự thiếu vắng lực cung.
  4. Đường VWAP giống như một đường hỗ trợ tại các vị trí LPS gợi ý cho việc mở vị thế mua vào (chỉ báo VWAP sẽ được đề cập trong các phần sau).

Biến thể loại 3: Hấp thụ nâng cao

Cấu trúc tích luỹ mô hình hai đáy
Hình 9: Cấu trúc tích luỹ mô hình hấp thụ nâng cao

Mô hình này có tên gọi khá mỹ miều: Mô hình hấp thụ nâng cao (Absorption at higher level Trading Range). Có thể coi đây là mô hình hai đáy – một mô hình đảo chiều quen thuộc.

Đặc điểm:

  • Giá vẫn tôn trọng TR được kẻ từ SC & AR, tuy nhiên lực cầu thể hiện sức mạnh đẩy UA lên cao hơn so với mức thông thường.
  • Tại UA có thể là một cấu trúc phân phối cục bộ nhỏ.
  • Giá từ UA quay ngược trở lại TR để tiến hành hấp thụ hết nguồn cung trong này mà không tới được biên dưới.

Ví dụ về mô hình tích luỹ hấp thụ nâng cao cặp NZD/USD:

Cấu trúc tích luỹ hấp thụ nâng cao NZD/USD
Hình 10: Cấu trúc tích luỹ hấp thụ nâng cao NZD/USD
  1. Ta thấy volume từ SC đến ST tăng lên cho thấy nguồn cung còn nhiều. Tuy nhiên sau đó giá không tiếp tục giảm mà tăng lên biên trên, cho thấy volume tại ST đa số là nguồn cầu ẩn của CO đã hấp thụ hết lượng cung tại đó.
  2. Tại đỉnh cấu trúc cục bộ khu vực UA, xuất hiện rút ngắn lực đẩy và volume cầu giảm dần báo hiệu giá dừng tăng (quy luật nỗ lực – kết quả).
  3. Giá giảm ngược trở lại vào TR với volume cao sau đó giảm dần nhưng không chạm vào biên dưới.
  4. Tại đây, giá không phá được qua vùng VAL của Volume Profile mà quay ngược trở lại.
  5. Xác định đây là LPS phase C tiềm năng vì giá tăng trở lại có volume tăng lên, phá qua POC của Volume Profile.
  6. Điểm vào lệnh an toàn là LPS sau cây nến tăng mạnh.

Biến thể loại 4: Tích luỹ với sức mạnh

Cấu trúc tích luỹ với sức mạnh vượt trội
Hình 11: Cấu trúc tích luỹ với sức mạnh vượt trội

Đây là mô hình Extra Strength Trading Range, giá nằm trong một kênh giá tăng (hoặc lá cờ tăng), thậm chí mạnh mẽ hơn so với mô hình hấp thụ nâng cao. Đặc điểm:

  • Sau pha giảm mạnh và râu nến dài tại SC, giá hồi phục và đi lên tạo ra các đỉnh đáy cao dần.
  • Một kênh giá tăng hình thành ngay từ đầu.
  • Sự hấp thụ xảy ra trong khu vực giao nhau giữa kênh giá và TR.

Ví dụ về cấu trúc tích luỹ thể hiện sức mạnh của XAU/USD:

Cấu trúc tích luỹ với sức mạnh XAU/USD
Hình 12: Cấu trúc tích luỹ với sức mạnh XAU/USD
  1. Sau khi có một lực cầu đỡ giá mạnh mẽ tại SC, giá vàng đi trong một kênh giá tăng thay vì một phạm vi đi ngang, thể hiện cho việc phe mua đang nắm quyền kiểm soát.
  2. Kênh giá tăng được xác định từ ba điểm SC, ST, AR.
  3. Thời điểm giá từ UA chui lại vào TR và chạm vào đường cầu, đây là khu vực giao nhau giữa TR và kênh giá. Quan sát thấy volume giảm tại khu vực này nên có thể là LPS phase C tiềm năng.
  4. Tại LPS cũng là hợp lưu giữa POC volume profile với đường cầu. Ta có thể kẻ Creek tại đây.
  5. Cây nến tăng giá mạnh mẽ sau đó vượt lên trên POC với khối lượng cao, tuy nhiên giá dừng lại ở đường biên trên TR khiến nhà đầu tư phân vân không dám vào lệnh.
  6. Điểm vào lệnh thích hợp là LPS thứ hai khi giá về test lại biên trên với khối lượng thấp.

Biến thể 5: Mô hình đáy tròn

Cấu trúc tích luỹ đáy tròn
Hình 13: Cấu trúc tích luỹ đáy tròn

Mô hình này còn được gọi là chữ U, saucer, mô hình đĩa tròn, rounding bottom pattern…

Đặc điểm tương tự như hình dạng vai đầu vai ngược hay suy yếu tiếp diễn, nhưng sự hấp thụ nguồn cung xảy ra chủ yếu nằm ở cấu trúc cục bộ bên dưới TR chính.

Dạng biến thể này không thường xuyên gặp và dễ bị nhầm lẫn với vai đầu vai ngược.

Ví dụ về mô hình tích luỹ đáy tròn cặp XAU/USD:

Biến thể đáy tròn XAU/USD
Hình 14: Biến thể đáy tròn XAU/USD
  • Giá không giữ được trong TR mà giảm xuống tạo một local TR bên dưới với volume tăng dần thể hiện nguồn cung đang chiếm ưu thế.
  • Tuy nhiên volume giảm dần về cuối phase B cho thấy dấu hiệu hấp thụ nguồn cung đang diễn ra trong cấu trúc cục bộ.
  • Phase C tiềm năng có sự kiểm định LPS với volume cao, sau đó là cú test với volume thấp thể hiện sự cạn cung. Chúng ta có thể mở vị thế tại pha test này.
  • Đường SMA50 cũng là đường hỗ trợ tại LPS, giá đẩy lại lên TR chính một cách nhanh chóng khiến những người chưa kịp mở vị thế sẽ bị miss lệnh.

Ngoài các dạng trên, chúng ta có thêm các dạng biến thể Trading Range chéo sẽ được nghiên cứu riêng tại các phần sau.

Lưu ý: Không nên cố gắng đánh dấu tất cả các sự kiện và phase của các biến thể. Thay vào đó hãy tìm kiếm phase C tiềm năng và quan sát hành động giá để có sự linh hoạt trong việc xác định bias.

Các biến thể thực chất là sự ghép nối các cấu trúc TR thông thường lại với nhau. Chúng ta hoàn toàn có thể phân tích riêng lẻ từng cấu trúc cục bộ nếu không nhận ra hình thái nào đang phát triển.

5/5 - (3 votes)


LỰA CHỌN SÀN GIAO DỊCH FOREX UY TÍN

Logo exness
FOREX
logo hfm
FOREX
CHỨNG KHOÁN
CHỨNG KHOÁN
Jack Auth

Mình là Jack - một blogger, youtuber về lĩnh vực giao dịch tài chính. Mình lập ra group Banktraps chuyên về hướng dẫn giao dịch bằng phương pháp SMC | ICT và Wyckoff và là nơi anh em trader trao đổi kiến thức cùng nhau giao dịch.

1 thought on “Wyckoff Phần 5: Tổng hợp 7 mẫu hình tích luỹ Wyckoff thường gặp”

Leave a Comment

Generic selectors
Exact matches only
Search in title
Search in content
Post Type Selectors
post
page
Filter by Categories
ICT
Nguyên Lý Sóng Elliott
SMC
Tâm lý giao dịch
Trading Hub 4.0
Wyckoff