Wyckoff Phần 6: Giai đoạn tái tích luỹ và các mẫu hình

Wyckoff

Tái tích luỹ là gì?

Tái tích luỹ (Re-Accumulation) trong Wyckoff là kết quả của việc xu hướng tăng cần phải trải qua giai đoạn củng cố trước khi tiếp tục đà tăng.

Tại điểm bắt đầu xu hướng tăng, CO là người kiểm soát thị trường, nhưng khi giá lên cao nguồn cung tiềm tàng từ công chúng bắt đầu xuất hiện.

Công chúng khi cầm hàng trong tay sẽ muốn chốt lời tại mức giá cao, khiến cho việc đẩy giá lên của CO trở nên khó khăn hơn.

Lúc này, ta nói chất lượng sở hữu tài sản kém và thị trường cần khởi động lại quá trình hấp thụ để CO tối ưu hoá lượng hàng của mình.

Cách hình thành tái tích luỹ
Hình 1: Cách hình thành tái tích luỹ

Trong một xu hướng tăng, chỉ có một giai đoạn tích luỹ nhưng sẽ xuất hiện nhiều giai đoạn tái tích luỹ.

Khi target giá của quá trình tích luỹ chưa đạt được thì cấu trúc tái tích luỹ được hình thành để bổ sung lực cầu vào đẩy xu hướng tăng lên tới mức giá mục tiêu.

Phân tích một xu hướng tăng

Đà tăng của một xu hướng tăng được xác lập sớm trong phase E của cấu trúc tích luỹ.

Hãy hình thành thói quen vẽ đường/kênh xu hướng xuôi hoặc đường/kênh xu hướng ngược để phân tích giai đoạn Uptrend.

Việc phân tích một kênh giá tăng là một kỹ thuật cực kỳ quan trọng trong phương pháp luận Wyckoff, vì các điểm quá mua hoặc quá bán được thể hiện khi giá vượt qua biên kênh giá.

Khi giá nằm trong một kênh tăng:

  • Giá vượt qua đường cung thể hiện quá mua và xu hướng tăng sắp dừng lại (không phải tín hiệu bán).
  • Giá phá vỡ giả qua đường cầu thể hiện quá bán và là cơ hội để xem xét mua vào.
  • Nếu giá phá vỡ đường cầu xuống sâu hơn mức bình thường, giá có thể thất bại trong nỗ lực quay trở lại đỉnh kênh tăng. Nhưng nếu giá phục hồi và tăng vượt lên tạo đỉnh mới, khả năng cao xu hướng tăng sẽ tiếp diễn (đã nêu trong phần 1).
  • Khi giá tiến đến gần đường cầu nhưng không chạm, cho thấy sức mạnh của xu hướng tăng.
Xu hướng tăng cặp tiền usdchf
Hình 2: Xu hướng tăng cặp tiền USD/CHF

Hình 2 là ví dụ hoàn hảo để phân tích một xu hướng tăng của cặp ngoại hối USD/CHF:

  1. Sau giai đoạn tích luỹ, xu hướng tăng hình thành rõ ràng kể từ phase E, nhưng thực chất nó đã bắt đầu từ đáy phase C (LPS).
  2. Một kênh giá tăng được vẽ từ ba điểm màu cam, đường cầu kẻ trước từ hai điểm chạm đáy và đường cung kẻ song song đi qua điểm chạm nằm giữa.
  3. Giá đi lên vượt qua đường cung thể hiện quá mua (BC), có nghĩa là xu hướng tăng dừng lại, đây không phải là tín hiệu sell.
  4. Một giai đoạn tái tích luỹ hình thành sau đó với sự kiện Spring là một điểm quá bán vượt qua đường cầu. Giá quay trở lại vào kênh giá là một tín hiệu mua.
  5. Giá tiếp tục đi lên với xu hướng tăng mạnh, thể hiện ở việc giá tiến đến gần nhưng không chạm vào đường cầu. Thực chất đó là một xu hướng tăng sau giai đoạn tái tích luỹ nằm trong một kênh giá ngược (nét đứt).
  6. Giá phá vỡ giả qua đường cung, thể hiện quá mua (BC). Xu hướng tăng dừng lại, không phải tín hiệu sell.
  7. Một giai đoạn phân phối hình thành sau đó, vượt ra khỏi đường cầu của cả hai kênh giá.

Cấu trúc tái tích luỹ

Cấu trúc tái tích luỹ cũng tương tự như cấu trúc tích luỹ gồm có 5 phase và các sự kiện. Điểm khác biệt duy nhất nằm ở cách nó bắt đầu hình thành.

Cấu trúc tích luỹ bắt đầu bằng hành động dừng xu hướng giảm, còn cấu trúc tái tích luỹ bắt đầu bằng hành động dừng xu hướng tăng.

Tái tích luỹ có Spring
Hình 3: Các pha và sự kiện cấu trúc tái tích luỹ

Nhìn trên hình 3, chúng ta có cấu trúc tái tích luỹ điển hình với các pha và sự kiện như sau:

Phase A: Dừng xu hướng tăng

PSY (Preliminary supply): Nguồn cung ban đầu

Công chúng đã không còn nắm giữ hàng vì sau giai đoạn tích luỹ họ đã bị CO hấp thụ hết, họ chỉ còn cách mua đuổi lên theo đà giá tăng.

Trên đà giá tăng, công chúng mua ngắn hạn bắt đầu manh nha chốt lời.

Đây này là nỗ lực đầu tiên để làm dừng quá trình tăng giá, tuy nhiên nỗ lực này luôn luôn thất bại do đà tăng giá quá mạnh mẽ.

PSY có thể vượt qua kênh giá (với khối lượng lớn) hoặc không.

PSY có thể xuất hiện hoặc không. Nếu không xuất hiện nghĩa là CO cảm nhận được nguồn cung mạnh mẽ và họ tham gia chốt lời khiến PSY trở thành BC.

BC (Buying climax): Cao trào mua (quá mua)

Sau thất bại tại PSY, một sự fomo bắt đáy với lực cầu mạnh mẽ dẫn tới sự kiện cao trào mua BC, với biên độ mở rộng volume cực đại.

Đây chính là nơi CO và nguồn cung tiềm tàng từ những người bị đu đỉnh trong quá khứ xuất hiện. khiến giá không thể tăng tiếp dù đa số retail đang lao vào mua theo đà tăng.

Sự kiện này dễ nhận biết hơn nếu BC vượt ra khỏi kênh giá tăng.

Nguồn cung này tạo ra một đợt điều chỉnh giảm lớn và biên độ mạnh, lớn hơn nhiều so với tất cả các đợt điều chỉnh giảm trước đó (CHoB lần thứ nhất).

BC xuất hiện báo hiệu sự dừng lại của xu hướng tăng (chưa phải tín hiệu bán).

Lưu ý rằng không phải lúc nào volume tại BC cũng cao. Nếu tại PSY đà tăng đã bị CO hấp thụ phần lớn thì tại BC sẽ có volume nhỏ với biên độ hẹp dần.

AR (Automatic reaction): Phản ứng tự động

Sự chặn đứng đà tăng ở SC khiến giá phản ứng giảm xuống tạo ra AR, thiết lập mức đáy thấp nhất của khung giá.

Tại AR, những người mua ngắn hạn trên đỉnh đang sợ hãi với khoản lỗ nặng khiến họ “nhả hàng” vào tay CO.

CO dùng tiền của mình để hấp thụ hết lực bán khiến giá không thể giảm sâu hơn được.

ST phase A: Kiểm định

CO xuất hiện hấp thụ nguồn cung khiến giá bật ngược trở lại tạo CHoB lần thứ hai.

Khi đến mức đỉnh cũ BC để kiểm tra cung – cầu, nó hình thành sự kiện ST và kết thúc phase A.

Trên đỉnh ST, giá tiếp tục thay đổi hành vi lần thứ ba đi xuống để bắt đầu phase B nhằm kiểm tra lại đáy AR.

3 CHoB = CHoCH → Giá chính thức thay đổi đặc tính từ xu hướng tăng sang sideway.

Từ BC và AR bạn có thể kẻ hai đường song song chính là TR.

Tái tích luỹ cặp tiền nzdusd
Hình 4: Tái tích luỹ cặp tiền NZD/USD

Trên hình 4, chúng ta thấy giá đạt trạng thái quá mua tại kênh giá đảo ngược (nét đứt) và đi vào giai đoạn đi ngang.

Trước đó đã có một lần xảy ra quá mua tại một kênh giá xuôi nhỏ hơn, nhưng giá mới chỉ tạo hai lần CHoB đã đi lên tiếp tục xu hướng tăng. Chưa có đủ ba lần thay đổi hành vi, ta chưa thể kẻ TR tại khu vực đó, và đó cũng là lý do chúng ta không nên sell ngay khi xuất hiện cao trào mua.

Phase B: Hình thành nguyên nhân

Phase B là khoảng thời gian giá liên tục kiểm tra cung – cầu ở biên trên và biên dưới TR.

Giá có những cú biến động mạnh tạo ra bull trap hoặc bear trap lên vùng đỉnh và phản ứng xuống đáy TR, những nguồn cung yếu ớt sẽ bị loại bỏ bởi những biến động này.

Tất cả những hành động này diễn ra rất nhanh.

Tuy nhiên, cũng giống như giai đoạn tích luỹ, những biến động giá này đang giảm dần theo thời gian, thể hiện tính chất hấp thụ nguồn cung.

Thông thường, các đợt điều chỉnh giảm giá xuống biên dưới sẽ mất nhiều thời gian hơn để hoàn thành và khối lượng giao dịch sẽ thấp hơn sau mỗi đợt giảm.

Phase C: Kiểm tra nguồn cung tại đáy

CO bắt đầu rũ bỏ những người tham gia vị thế tại biên dưới bằng một sự kiện Spring (hình 5).

Tuỳ vào sức mạnh của nguồn cung mà CO sẽ đưa ra quyết định tiếp theo:

  • Nếu nguồn cung còn ít, CO có thể hấp thụ hết và đẩy giá đi lên sang phase D.
  • Nếu nguồn cung còn nhiều, CO cảm thấy con đường giá đi lên tốn nhiều chi phí, họ sẽ tiếp tục kéo dài quá trình hấp thụ hoặc sẽ từ bỏ để thị trường đi vào phân phối.

Lưu ý: Tuỳ vào điều kiện thị trường, nguồn cung còn lại và ý đồ của CO mà Spring trong cấu trúc tái tích luỹ có thể xuất hiện hoặc không.

Nếu không có Spring, giá chỉ tạo LPS như trên hình 3. LPS này là một cú rũ bỏ của một giai đoạn tích luỹ cục bộ nhỏ.

Phase D: Thể hiện sức mạnh

SOS (Sign of Strenth): Dấu hiệu sức mạnh

Sau khi xác định nguồn cung còn ít, CO dễ dàng đẩy giá đi lên phá vỡ khỏi TR hình thành SOS với biên độ rộng và volume tăng cao, thể hiện cầu > cung.

Đây là CHoB lần thứ nhất.

SOS phase D cũng có thể coi là JAC vì giá đã phá qua con lạch Creek.

Trong quá trình giá đi lên tạo SOS sẽ có các đợt hồi với volume nhỏ. Đó chính là LPS và cũng là những điểm vào lệnh đẹp.

LPS phase D: Hỗ trợ cuối cùng

Sau khi phá qua TR, giá từ SOS hồi về Creek kiểm tra nguồn cung tiềm tàng.

Cũng giống như giai đoạn tích luỹ, ta gọi pha test này là LPS hoặc BU. Đây chính là CHoB lần thứ hai.

Nếu nguồn cung còn lại yếu ớt thể hiện qua volume giao dịch nhỏ và biên độ giảm dần, CO sẽ đẩy giá lên tiếp sang phase E.

Đó là CHoB lần thứ 3.

3 CHoB = CHoCH → Giá chính thức thay đổi đặc tính từ đi ngang sang xu hướng tăng.

Phase E: Xu hướng tăng ngoài TR

Giá phá qua đỉnh SOS và chính thức bước vào xu hướng uptrend, xuất hiện liên tiếp các SOS và LPS tạo nên đỉnh và đáy cao dần.

Ví dụ: Chúng ta sẽ phóng to giai đoạn tái tích luỹ của cặp ngoại hối USD/CHF trong hình 2 để phân tích cấu trúc điển hình này.

Cấu trúc tái tích luỹ usdchf
Hình 5: Cấu trúc tái tích luỹ có Spring cặp USD/CHF
  1. Trong quá trình phát triển TR, volume giảm dần từ phase A đến phase C → Có sự hấp thụ nguồn cung xảy ra (chỉ báo Volume Weis sẽ được đề cập trong các bài viết sau).
  2. Tại phase C, cú rũ bỏ Spring khiến công chúng hoảng loạn bán tháo và những người mua tại khu vực biên dưới bị dính SL. Sau đó giá đi lên phá qua hai đường Creek với cây nến thân dài có volume tăng cao.
  3. Điểm Spring này cũng đồng thời là vị trí quá bán tại kênh giá tăng của khung thời gian lớn (xem lại hình 2), sự hợp lưu này gợi ý cho một cú tăng lên sau khi giá quay lại vào kênh giá.
  4. LPS, BU là các vị trí thích hợp để mở vị thế mua.

Dấu hiệu nhận biết tái tích luỹ

Thật khó để phân biệt giữa cấu trúc tái tích luỹ và phân phối, vì nó tuỳ thuộc vào nguồn cung tiềm tàng trong thị trường.

Trong khoảng thời gian hình thành và phát triển TR, nhà phân tích Wyckoff sẽ nghiên cứu các tín hiệu của giá (spread) và khối lượng (volume) để xác định liệu đó có thể là giai đoạn tái tích lũy hay giai đoạn phân phối đang diễn ra.

Cũng giống như trong giai đoạn tích lũy ban đầu, CO sẽ có chiến lược hấp thụ nguồn cung mỗi khi giá điều chỉnh giảm về các mức hỗ trợ và họ sẽ ngừng hoạt động mua khi giá tăng trở lại mức kháng cự (trừ SOS).

Giá thường sẽ khó trở lại mức hỗ trợ hơn (trừ pha C) và điều này sẽ được phản ánh trên biểu đồ với các phạm vi biên độ giá bị thu hẹp và khối lượng giao dịch thường giảm dần (cung giảm).

Chúng ta sẽ nghiên cứu sự khác biệt với phân phối chi tiết hơn trong các phần sau.

Các mẫu hình cấu trúc tái tích luỹ

Cấu trúc tái tích luỹ có nhiều hình dạng và biến thể khác nhau. Tuỳ vào nguồn cung tiềm tàng và ý đồ của CO mà dẫn đến sự hình thành các hình thái khác nhau.

Sau đây là một số hình dạng cấu trúc tái tích luỹ thường gặp.

Dạng 1: Tái tích luỹ có hành động Spring

Tái tích luỹ loại 1: Có Spring
Hình 6: Tái tích luỹ với hành động Spring

Mẫu này có tên gọi Reaccumulation with Spring action. Đặc điểm:

  • TR hình thành theo dạng phẳng hoặc dốc xuống (biến thể TR dốc sẽ được đề cập sau).
  • Có thể xuất hiện một số đáy thấp hơn, với Spring là điểm thấp nhất trong TR.

Ví dụ về cổ phiếu $AMZN tái tích luỹ khung 3D:

Cấu trúc tái tích luỹ cổ phiếu Amazon
Hình 7: Cấu trúc tái tích luỹ cổ phiếu Amazon
  1. Xuất hiện quá mua BC vượt qua kênh giá tăng với khối lượng giảm dần và biên độ hẹp → Nguồn cầu suy yếu và giá dừng tăng.
  2. Tại các vị trí khoanh tròn màu đỏ tương ứng với các đỉnh và giá rời khỏi mức đỉnh, volume cao thể hiện áp lực nguồn cung ở đầu TR khiến giá giảm khá sâu.
  3. Tại các vị trí khoanh tròn màu xanh tương ứng với các đáy và giá hồi phục từ đáy, volume cao cho thấy lực cầu mạnh về cuối TR.
  4. Cú test Spring có volume giảm so với Spring cho thấy lượng cung đã cạn kiệt.
  5. Giá phá qua Creek với cây nến thân dài có giá đóng cửa sát với đỉnh nến và volume lớn tạo ra minor SOS, theo sau là đợt điều chỉnh nhẹ LPS có volume nhỏ thể hiện cầu đang áp đảo cung.
  6. Tiếp theo giá phá qua biên trên TR tạo ra Major SOS với volume cao cho thấy CO tiếp tục mua vào và hấp thụ hết lượng cung lớn trên đường biên trên, nhịp điều chỉnh LPS thậm chí không thể về test lại đường biên đó → Nguồn cung đã thực sự cạn kiệt.
  7. Điểm thích hợp mở vị thế mua là cây nến tăng sau pha test, và các LPS.

Dạng 2: Tái tích luỹ với thời gian hấp thụ lâu

Tái tích luỹ thời gian hấp thụ lâu
Hình 8: Tái tích luỹ với thời gian hấp thụ lâu

Đây là mẫu Reaccumulation after shakeout. Đặc điểm:

  • Sự hấp thụ nguồn cung xảy ra trong TR mà không làm giá chạm vào đường biên hỗ trợ.
  • Thể hiện nỗ lực hấp thụ nguồn cung của CO không làm giá giảm sâu hơn.
  • Biên độ nến giảm dần từ phase A đến phase C.

Ví dụ về $BTC tái tích luỹ khung 12h:

Cấu trúc tái tích luỹ của Bitcoin
Hình 9: Cấu trúc tái tích luỹ của Bitcoin
  • Khối lượng và biên độ nến giảm dần về cuối TR là đặc trưng thường thấy của sự hấp thụ nguồn cung.
  • Chúng ta có hai LPS đóng vai trò là hai cú rũ bỏ ở cấu trúc nhỏ, có volume cạn kiệt.
  • Giá phá lên qua Creek với lực cầu tăng dần cho thấy cầu > cung.
  • Điểm vào lệnh tại cây nến tăng mạnh sau các cú test LPS.

Dạng 3: Tái tích luỹ thể hiện sức mạnh

Cấu trúc tái tích luỹ thể hiện sức mạnh
Hình 10: Cấu trúc tái tích luỹ thể hiện sức mạnh

Đây là tái tích luỹ Reaccumulation with uprise:

  • Là dạng tái tích luỹ mạnh nhất, có thể kẻ TR ngang hoặc dốc.
  • Được thể hiện thông qua đỉnh đáy cao dần, không có Spring.
  • Thể hiện sự vội vã đẩy giá lên của CO sau khi nhận thấy nguồn cung đã bị hấp thụ hết.

Ví dụ về cặp tiền tệ NZD/USD với cấu trúc tái tích luỹ sức mạnh:

Tái tích luỹ thể hiện sức mạnh cặp NZDUSD
Hình 11: Tái tích luỹ thể hiện sức mạnh cặp NZD/USD
  • Volume giảm dần khi giá còn nằm trong cấu trúc thể hiện sự hấp thụ.
  • Sau đó giá vội vã phá lên trên TR với volume tăng và đỉnh đáy cao dần thể hiện lực cầu áp đảo.
  • Những pha giá giảm xuống vào trong TR có volume giảm dần thể hiện sự từ chối TR.
  • Khi quay trở lại TR, giá đi xuống đường POC của Volume Profile rồi bật lên nhanh chóng (chỉ báo Volume Profile sẽ được đề cập trong các bài viết sau).
  • Điểm mở vị thế an toàn là các cây nến mạnh mẽ bật ngược trở lại sau khi test POC và đường biên trên.

Dạng 4: Tái tích luỹ sau suy giảm

Cấu trúc tái tích luỹ sau suy giảm
Hình 12: Cấu trúc tái tích luỹ sau suy giảm

Tên gọi của mẫu hình này là Reaccumulation after decline. Đặc điểm:

  • Là dạng tái tích luỹ yếu nhất, vì nó diễn ra sau một đợt giảm khiến nhà đầu tư nghi ngờ về xu hướng tiếp theo.
  • Đợt giảm giá thường bắt đầu từ một mô hình phân phối cục bộ nhỏ, theo đó CO cảm thấy nguồn cung đang áp đảo khó có thể đẩy lên nên từ bỏ hấp thụ khiến giá giảm xuống khỏi TR.
  • Sau đó tại mức giá rẻ hơn, CO cảm thấy nguồn cung đã suy giảm và là thời điểm thích hợp để tối ưu lượng hàng với chi phí thấp, CO tiến hành kế hoạch hấp thụ nguồn cung khiến giá dừng giảm và đi vào một TR tích luỹ.

Ví dụ về Vàng khung 2h cấu trúc tái tích luỹ sau suy yếu:

Tái tích luỹ sau suy yếu Gold
Hình 13: Tái tích luỹ sau suy yếu – Gold
  1. Cấu trúc tái tích luỹ này gồm hai cấu trúc nhỏ: cấu trúc phân phối cục bộ và tích luỹ với sức mạnh.
  2. Việc thiếu hụt lực cầu đã không thể đẩy giá lên khiến giá rơi khỏi TR thứ nhất.
  3. Đến TR thứ hai, volume giảm ngay ở giai đoạn đầu, lực cầu xuất hiện đẩy giá phá qua biên trên (khoanh tròn màu xanh).
  4. Hình thành một cấu trúc cục bộ nhỏ nằm ở biên trên, giá không thể chạm xuống biên dưới TR.
  5. Giá tạo LPS thứ nhất (là cú rũ bỏ trong cấu trúc cục bộ) với biên độ và volume giảm, thể hiện nguồn cung cạn kiệt. Sau đó giá đi lên tạo LPS thứ hai với đỉnh đáy cao dần.
  6. Điểm vào lệnh thích hợp nằm ở cây nến tăng mạnh sau các LPS.

Ngoài ra chúng ta còn có các biến thể TR chéo sẽ được đề cập trong các phần sau.

5/5 - (2 votes)


LỰA CHỌN SÀN GIAO DỊCH FOREX UY TÍN

Logo exness
FOREX
logo hfm
FOREX
CHỨNG KHOÁN
CHỨNG KHOÁN
Jack Auth

Mình là Jack - một blogger, youtuber về lĩnh vực giao dịch tài chính. Mình lập ra group Banktraps chuyên về hướng dẫn giao dịch bằng phương pháp SMC | ICT và Wyckoff và là nơi anh em trader trao đổi kiến thức cùng nhau giao dịch.

Leave a Comment

Generic selectors
Exact matches only
Search in title
Search in content
Post Type Selectors
post
page
Filter by Categories
ICT
Nguyên Lý Sóng Elliott
SMC
Tâm lý giao dịch
Trading Hub 4.0
Wyckoff