Phần đầu tiên chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu các yếu tố cơ bản của Wyckoff, gồm có chu kỳ thị trường và xu hướng giá.
Chúng ta sẽ trả lời cho câu hỏi: Giá di chuyển như thế nào?
Chu kỳ thị trường Wyckoff
Thị trường luôn có nhiều dạng đối tượng tham gia giao dịch.
Để đơn giản hoá, chúng ta sẽ xem như có 2 đối tượng chính tham gia gồm có các tổ chức gọi là CO, và các nhà giao dịch nhỏ lẻ (retail) còn gọi là công chúng, hoặc tay yếu.
Một chu kỳ thị trường hoàn tất khi có đủ 4 giai đoạn: tích luỹ, xu hướng tăng, phân phối, xu hướng giảm, cùng với sự tham gia của CO và retail được thể hiện qua biểu đồ bên dưới!
Chu kỳ đầy đủ xảy ra ở nhiều khung thời gian, do đó chúng ta cần phải phân tích ở nhiều khung thời gian, mỗi khung có thể đang ở các giai đoạn khác nhau. Kết hợp với bối cảnh thị trường có thể giúp chúng ta phân tích chính xác.
Chu kỳ thị trường trong đồ thị trên đi kèm với tâm lý của các phe tham gia như sau:
- Khi giá đang giảm mạnh sau hàng loạt các tin tức xấu, thị trường đang trải qua đợt bán tháo do sự đầu hàng thì CO là người gom hàng giá rẻ của các retail bán ra.
- Sau khi CO gom đủ lượng hàng, các retail hết hàng để bán. Lúc này rất ít người bán hàng ra thị trường, chỉ có những người mua vào khiến giá bắt đầu phá vỡ theo chiều tăng. Các CO tiếp tục mua trong xu hướng tăng trong khi retail chưa dám mua vì chưa có đủ niềm tin hoặc họ sẽ bán những gì còn sót lại.
- Gần cuối xu hướng tăng, các tin tức tốt liên tục xuất hiện, các retail sợ bỏ lỡ cơ hội (fomo) và lao vào mua bất chấp. Các F0 đứng ngoài cũng lao vào mua cùng. Lúc này CO đứng ngoài quan sát và lên kế hoạch xả hàng.
- Giá đã tăng rất cao, CO bắt đầu xả hàng một cách có kế hoạch sao cho giá không bị biến động nhiều. Do công chúng vẫn còn niềm tin mãnh liệt vào uptrend nên họ liên tục mua vào khiến cho CO xả được hàng ở mức giá đắt.
- Sau khi một thời gian CO phân phối hàng cho công chúng, còn rất ít người muốn mua ở mức giá cao khiến giá phá vỡ giảm xuống. Các CO sẽ tiếp tục thực hiện việc bán theo xu hướng giảm trong khi retail đang nghĩ rằng đây chỉ là một đợt điều chỉnh và tiếp tục mua vào với hy vọng mức giá này đủ rẻ.
Nhìn vào chu kỳ trên, bạn có thể hiểu vì sao chúng ta luôn luôn là phe thua lỗ. Ngay cả khi ta biết đến biểu đồ này, kết quả vẫn vậy, vì chúng ta không biết mình đang ở vị trí nào!
Đó là lý do Wyckoff khuyên chúng ta cần hành động giống như một CO, điều này không hề dễ dàng nhưng Banktraps sẽ hướng dẫn bạn có được tư duy của CO qua chuỗi bài viết này!
Xu hướng
Một câu nói nổi tiếng trong giới trading: Trend is friend. Giao dịch thuận xu hướng thường cho chúng ta kết quả tốt hơn so với ngược xu hướng.
Xu hướng là gì?
Xu hướng là hướng di chuyển của giá trong một khoảng thời gian nhất định. Để xác định xu hướng, chúng ta kẻ đường xu hướng (trendline), mô tả góc tăng hoặc góc giảm.
Khi giá đang di chuyển và gặp phải đường xu hướng (trendline), nó sẽ đục thủng đường này hoặc quay đầu đảo chiều.
Vùng giá nơi mà giá chạm vào đường xu hướng là vị trí tuyệt vời để vào lệnh giao dịch.
Để giải thích tại sao giá di chuyển, bạn đọc vui lòng đọc về Ba quy luật Wyckoff trong phần 2.
Phân loại xu hướng thị trường
Tuỳ theo hướng di chuyển của giá, chúng ta có thể phân loại xu hướng thành ba loại:
- Xu hướng tăng (uptrend)
- Xu hướng giảm (downtrend)
- Xu hướng đi ngang (có thể gọi là sideway hoặc không có xu hướng).
Ba loại xu hướng này phù hợp với hình 1 trong phần chu kỳ thị trường.
Trong hình 2, xu hướng tăng xuất hiện khi giá tạo ra các sóng đẩy và sóng hồi tăng dần, tức là đỉnh và đáy cao dần.
Ngược lại, xu hướng giảm xuất hiện khi giá tạo ra các đỉnh và đáy thấp dần.
Xu hướng đi ngang xuất hiện khi đỉnh và đáy duy trì không đổi, biến động trong một khung giá. Xu hướng đi ngang chính là giai đoạn tích luỹ hoặc phân phối trong hình 1.
Xét về mặt thời gian, xu hướng được chia thành: dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Chúng ta có thể quan sát xu hướng ngắn hạn trong xu hướng trung hạn, và rồi chúng ta lại quan sát xu hướng trung hạn bên trong xu hướng dài hạn.
Cách vẽ đường xu hướng
Đường hướng tăng
Trong một xu hướng tăng, đường xu hướng được vẽ bằng cách nối các điểm hỗ trợ cao dần lên, nó còn được gọi là đường cầu hoặc đường hỗ trợ vì nó đánh dấu vị trí mà phe mua xuất hiện lặp đi lặp lại.
Trong hình 2, nó chính là đường màu xanh của xu hướng tăng.
Đường xu hướng giảm
Trong một xu hướng giảm, đường xu hướng được vẽ bằng cách nối các điểm kháng cự thấp dần, nó còn được gọi là đường cung hoặc đường kháng cự, vì nó là nơi mà phe bán xuất hiện lặp đi lặp lại.
Trong hình 2, nó chính là đường màu đỏ của xu hướng giảm.
Đường đu hướng đi ngang
Đường xu hướng đi ngang (sideway) được kết nối giữa những điểm kháng cự/hỗ trợ nằm ngang.
Đa số chúng ta đều có thể giao dịch thuận lợi nếu gặp xu hướng tăng hoặc giảm rõ ràng. Nhưng khi gặp thị trường đi ngang, tỷ lệ dính stoploss sẽ tăng lên đáng kể.
Chúng ta sẽ nghiên cứu xu hướng ngang (trading range) ở các bài viết sau.
Kênh xu hướng là gì?

Kênh xu hướng (channel) gồm hai đường kẻ song song, một đường cung và một đường cầu đóng vai trò là hai đường kháng cự và hỗ trợ giá.
Kênh xu hướng là một phần quan trọng của Wyckoff nên tôi mong bạn đừng bỏ qua phần này!
Kênh xu hướng thông thường
Trong một kênh giá tăng, đường cầu chính là đường xu hướng tăng kết nối hai điểm ở đáy (điểm 1 & 2), và đường cung được vẽ bằng cách kẻ một đường song song với đường cầu từ một điểm neo nằm giữa (số 3).
Tương tự với kênh giá giảm, đường cung chính là đường xu hướng giảm kết nối hai điểm ở đỉnh (4 & 5), và đường cầu được vẽ song song với đường cung từ điểm neo nằm giữa (số 6).
Việc vẽ kênh xu hướng không nên quá máy móc, đôi lúc chúng ta có thể thay đổi các điểm neo sao cho phù hợp với hướng đi của giá.
Hình 4 cho thấy việc lựa chọn điểm C và E là một phán đoán tốt để vẽ đường hỗ trợ cho kênh giá tăng. Đường cung song song với CE kẻ từ đỉnh D đã thể hiện tốt vai trò khi nó cũng là đường kháng cự cho các điểm B và F.
Nếu ta vội vã lựa chọn điểm A và C để vẽ đường cầu, kênh xu hướng sẽ không phù hợp với hướng đi của giá.
Khi phân tích một kênh tăng, hãy chú ý đến tính cách của nhịp tăng sau khi phá vỡ đường cầu: Nếu giá phá vỡ đường cầu xuống thấp hơn mức bình thường, giá có thể thất bại trong nỗ lực quay trở lại đỉnh kênh tăng. Nhưng nếu giá phục hồi và tăng vượt lên tạo đỉnh mới, khả năng cao xu hướng tăng sẽ tiếp diễn.
Nhìn lại ví dụ trên hình 4, ta thấy giá đã phá vỡ đường hỗ trợ xuống phía dưới (mũi tên đỏ), và khi giá nỗ lực quay trở lại đỉnh kênh tăng nó đã thất bại (điểm G). Điều này dẫn đến việc giá đã hình thành một kênh giảm sau đó.
Kênh xu hướng đảo ngược
Một vài xu hướng tăng sẽ không nằm vừa vặn trong một kênh giá tăng bình thường theo cách vẽ bên trên, do độ dốc cao hoặc do xu hướng chưa hình thành rõ ràng.
Chúng ta sẽ đảo ngược thứ tự vẽ hai đường hỗ trợ và kháng cự cho nhau, gọi là đường xu hướng đảo ngược (hoặc đường xu hướng đối lập).
- Để vẽ đường xu hướng tăng đảo ngược, bắt đầu từ các đỉnh 1 & 2. Và để tạo một kênh tăng đảo ngược, ta vẽ một đường song song đi qua đáy 3 nằm giữa hai đỉnh đó.
- Để vẽ đường xu hướng giảm đảo ngược, bắt đầu từ đáy 1 & 2. Và đường song song kẻ qua đỉnh 3 nằm giữa hai đáy đó sẽ tạo ra một kênh tăng đảo ngược.
Hình 5 thể hiện các kênh giá đối lập, được vẽ bằng cách vẽ đường xu hướng đối lập trước với nét đứt để phân biệt với đường xu hướng thông thường.
Trong nhiều trường hợp, một đường xu hướng tăng và một đường xu hướng tăng đảo ngược sẽ hội tụ thành hình lá cờ hướng lên (còn gọi là hình nêm hay hình tam giác hướng lên). Điều này xảy ra tương tự với xu hướng giảm, ta sẽ có lá cờ hướng xuống.
Hình lá cờ xuất hiện trong một xu hướng tăng cho thấy nhịp tăng đang mệt mỏi và mất dần động lượng. Trong xu hướng giảm, đây là dấu hiệu của nhịp giảm đang sắp kết thúc.
Đây chính là hiện tượng SOT (rút ngắn lực đẩy) mà chúng ta sẽ học trong các bài viết sau.
Một điều quan trọng mà tôi sẽ đóng khung để nhấn mạnh: một chuyển động giá phá vỡ giả qua kênh/đường xu hướng đảo ngược có thể dẫn đến sự đảo chiều xu hướng của giá.
Đồ thị USD/JPY trên hình 6 cho thấy sau khi giá phá vỡ qua đường/kênh xu hướng đảo ngược, giá đã đảo chiều sau đó.
Một xu hướng khi đã hình thành, sẽ tiếp tục duy trì cho đến khi có dấu hiệu rõ ràng cho thấy xu hướng đó đang kết thúc.
Các cú phá vỡ qua kênh/đường xu hướng này có thể là Spring/UTAD của một range Wyckoff chéo, hoặc cũng có thể là khởi đầu cho sự xuất hiện của một phạm vi Wyckoff đi ngang.
Lưu ý: Một số xu hướng giá không tuân theo bất kỳ một kênh giá nào do chúng quá dốc. Việc vẽ đường hỗ trợ/kháng cự, đường xu hướng và kênh giá yêu cầu tư duy mở (có thể kết hợp thêm kênh Fibonacci). Bạn phải luôn cân nhắc những khả năng khác nhau, sao cho kênh giá chứa hầu hết các chuyển động giá cho đến điểm cuối cùng.
Ý nghĩa của những đường kẻ và kênh giá
Một người mới tham gia trading thường áp dụng chiến lược breakout, vào lệnh khi phá vỡ khỏi đường xu hướng. Hoặc vào lệnh đảo chiều mỗi khi giá chạm vào biên của kênh giá.
→Điều này là hoàn toàn sai lầm.
Bạn không nên mua bán chỉ đơn giản vì giá chạm hoặc phá vỡ qua đường trendline.
Kênh và đường xu hướng cho bạn biết ai là phe đang kiểm soát thị trường.
- Một kênh tăng chỉ ra rằng phe mua đang kiểm soát.
- Một kênh giảm chỉ ra rằng phe bán đang nắm quyền kiểm soát.
- Một kênh giá đi ngang cho thấy dấu hiệu cân bằng giữa hai phe.
Do đó ý nghĩa của những đường kẻ là chúng cho ta cái nhìn về tâm lý thị trường, và xác định được bias tạm thời.
Việc sử dụng các đường kẻ sẽ hữu ích nhất khi kết hợp với một phương pháp như Wyckoff.
Nếu chúng ta xác định giá đang ở vị trí thú vị, thay vì mua ngay chúng ta có thể chờ sự phát triển của giá khi tạo thành cấu trúc tích luỹ/phân phối rõ ràng.
Ví dụ như trên hình 6, sự kiện giá phá vỡ giả qua biên trên của kênh giá đảo ngược chính là UTAD trong một cấu trúc phân phối của Wyckoff, gợi ý cho chúng ta một điểm sell thích hợp.








Your article helped me a lot, is there any more related content? Thanks!