Wyckoff Phần 8: Tổng hợp 7 dạng mẫu hình Phân phối thường gặp

Wyckoff

Một biểu đồ Wyckoff trực quan bằng cả ngàn lời nói. Trong phần này, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận về giai đoạn Phân phối và các hình thái của nó.

Tôi không khuyến khích các bạn đi sâu vào các mẫu hình biến thể, vì nó khó phát hiện, và thực chất nó chính là sự ghép nối các mẫu hình thông thường lại với nhau.

Chúng ta chỉ cần nắm được hai hình thái Conventional Distribution (dạng thông thường) là cấu trúc phân phối có UTAD và không có UTAD.

Sự quan trọng của ngữ cảnh

Các sơ đồ Wyckoff là tích luỹ hay phân phối đều giống như một tấm bản đồ.

Chúng cho bạn biết vị trí mà bạn nên đến và cách nào để đến được vị trí đó.

Những cấu trúc Wyckoff cung cấp cho bạn các ngữ cảnh (Context).

Mỗi pha trong giai đoạn phân phối thể hiện sự thay đổi của hành vi giá (CHoB) từ khi bắt đầu đến khi kết thúc.

Là một nhà phân tích kỹ thuật Wyckoff, bạn có thể nắm bắt được thời điểm quan trọng mà CO tham gia (dự trên ba quy luật Wyckoff và thuyết đấu giá).

Biết được cách mà CO làm dừng xu hướng tăng, sau đó phân phối hàng vào tay công chúng cho đến khi kết thúc quá trình đó và đi vào xu hướng giảm.

Tất cả đều được thể hiện trong năm pha nằm gọn trong phạm vi TR mà chúng ta đã nghiên cứu trong phần 7.

Tuy nhiên, không phải lúc nào giá cũng tuân theo một TR đẹp đẽ như vậy.

Cấu trúc phân phối có những hình dạng mà giá không nằm gọn trong một Trading Range, chúng ta hãy thảo luận các hình dạng khác nhau trong phần dưới đây.

Các mẫu hình và biến thể của phân phối Wyckoff

Phân phối loại 1: Có UTAD

Hình thái phân phối có UTAD
Hình 1: Hình thái phân phối thông thường có UTAD

Đây là hình thái Distribution phổ biến, trong đó xuất hiện UTAD là điểm cao nhất trong TR.

Sau UTAD, giá nhanh chóng phá qua The Ice và test lại LPSY với volume nhỏ, là điểm mở vị thế thích hợp.

Ví dụ về mẫu hình phân phối có UTAD cặp SEI/USDT khung H1:

Giai đoạn phân phối SEI/USDT
Hình 2: Cấu trúc phân phối SEI/USDT
  • Tại phase A, ta thấy có lực xả lớn tại các đỉnh TR như BC, ST thể hiện bằng volume cao.
  • Sang phase B, có lực cầu đỡ giá mạnh tại ST nhưng không có lực mua tiếp diễn khiến giá bị giảm xuống phá qua biên dưới tạo mSOW.
  • mSOW là một TR tích luỹ cục bộ với nguồn cung giảm dần do CO đang hấp thụ lại nguồn cung từ công chúng tại đây.
  • Sau giai đoạn tích luỹ nhỏ, giá dễ dàng đi lên sang phase C phá qua đỉnh cao nhất của TR, chính là UTAD.
  • Cây nến UTAD có râu nến dài và volume lớn cho thấy CO chủ động xả hàng mạnh mẽ lượng cung đã hấp thụ từ TR cục bộ bên dưới.
  • Sang phase D, giá tạo một TR tái phân phối cục bộ với rất nhiều râu nến ở biên trên chứng tỏ có lực bán chủ động không cho giá hồi lên.
  • Giá giảm xuống vượt qua biên dưới (SOW) với volume tăng dần cho thấy CO đang tiếp tục xả hàng trong khi lực cầu đã cạn kiệt.
  • Chúng ta dễ dàng kẻ các đường The Ice sau khi giá đục qua bằng cây nến thân dài.
  • Vị trí vào lệnh đẹp là các LPSY (cũng là cú test của TR tái phân phối cục bộ).

Trong ví dụ trên, tại vị trí mSOW chúng ta có thể mang bias tích luỹ và đánh dấu đây là phase C tiềm năng, nhưng sau đó tại vị trí UTAD chúng ta hoàn toàn đảo ngược bias lại thành phân phối. Sự linh hoạt thay đổi bias giữa tích luỹ và phân phối là điều cần thiết đối với một Wyckoffians.

Phân phối loại 2: Không có UTAD

Hình thái phân phối không có UTAD
Hình 3: Hình thái phân phối không có UTAD

Đây là dạng phân phối thường gặp, tuy nhiên khó để nhận biết phase C vì giá luôn tiềm ẩn khả năng tạo UTAD bất cứ lúc nào.

Ví dụ về hình dạng Phân phối không có UTAD căp tiền tệ EUR/USD:

Cấu trúc phân phối đồng Euro
Hình 4: Cấu trúc phân phối đồng Euro
  • Volume bán tăng dần và volume mua giảm dần trong suốt quá trình hình thành TR, cho thấy cung dần chiếm ưu thế so với cầu.
  • Vị trí ST khoanh tròn rất dễ bị nhầm với phase C, tuy nhiên quan sát volume nguồn cầu sau đó vẫn lớn nên cần quan sát thêm.
  • Tới khi xuất hiện LPSY phá qua đỉnh ST và đi xuống với cây nến đỏ rút râu dài, chúng ta mới đánh dấu đây là phase C tiềm năng.
  • Sau đó giá phá xuống qua biên dưới của TR với volume tăng mạnh mẽ, rồi test lại tại vị trí LPSY phase D với volume cạn kiệt. Lúc này phe mua mới thật sự kiệt sức.
  • Vị trí LPSY này hợp lưu với VAL của ngày hôm trước + POC của ngày hôm nay + VWAP tuần, gợi ý cho một điểm bán khống tỷ lệ thắng cao.

Lưu ý: với các cặp tiền forex chúng ta nên sử dụng mã future của sàn CME để đọc volume thay vì các sàn OANDA hay FXCM. Tham khảo các mã fx trên kênh Telegram của Banktraps.

Biến thể loại 1: Mô hình cây thông

Cấu trúc phân phối Hypodermic
Hình 5: Cấu trúc phân phối Hypodermic

Mô hình này được Wyckoff gọi là Hypodermic (mô hình cây thông hoặc mô hình kim tiêm).

Vào cuối của một xu hướng tăng, giá thường được duy trì hoặc cố gắng phục hồi thông qua hàng loạt các “mũi tiêm gây mê”.

Đây là những kích thích nhân tạo, thể hiện qua việc đẩy giá và khối lượng giao dịch lên cao.

Tuy nhiên, sau đó thị trường lại nhanh chóng giảm trở lại.

Biến thể Hypodermic có thể khiến một xu hướng tăng gần như chết đứng nhưng vẫn duy trì trong thời gian dài hơn, như thể đang níu kéo thị trường bằng “sự sống nhân tạo”.

Khi mục tiêu gần như đạt được, thị trường rơi vào trạng thái phân phối kiểu “Teepee” (hình chóp nhọn) hoặc tạo thành xu hướng giảm có độ dốc cao với các lower high trước khi sụp đổ nhanh chóng.

CO đã bán phần lớn hàng ra tại hình chóp, khiến phase A thường có volume lớn, nhưng sau đó volume giảm dần cho đến phase D do CO đứng ngoài. Đến phase E, các ITF (các quỹ giao dịch theo xu hướng của tổ chức) mới bắt đầu bán khiến volume tăng cao.

Ví dụ về mô hình phân phối Hypodermic cặp EUR/USD:

Mô hình kim tiêm gây mê cặp EUR/USD
Hình 6: Mô hình kim tiêm gây mê cặp EUR/USD
  • Volume giảm dần từ pha A đến pha D.
  • Volume tăng dần từ pha D đến pha E.
  • Thường thì hình dạng này sẽ là một swing trong một TR khác lớn hơn rất nhiều.

Một ví dụ khác về cặp USD/CAD biến thể kim tiêm kết hợp với một local TR tái phân phối:

Mô hình phân phối cây thông USD/CAD
Hình 7: Mô hình phân phối cây thông USD/CAD

Mô hình Hypodermic khá phổ biến trong forex và crypto nhưng không dễ để phát hiện và giao dịch.

Biến thể loại 2: Mô hình hai đỉnh

Biến thể phân phối mô hình hai đỉnh
Hình 8: Biến thể phân phối mô hình hai đỉnh

Mô hình hai đỉnh (double top) là dạng mô hình đảo chiều quen thuộc, còn được gọi là mô hình tai mèo.

Giá thất bại trong việc tăng giá sau khi thoát khỏi vùng tích luỹ và nhanh chóng giảm xuống sau khi phe mua kiệt sức.

Ví dụ cặp BTC/USDT mô hình hai đỉnh:

Mô hình phân phối hai đỉnh Bitcoin
Hình 9: Mô hình phân phối hai đỉnh Bitcoin
  • Tại vị trí mSOW chính là local spring của TR cục bộ.
  • Giá nhanh chóng đi lên phá ra khỏi range nhưng nhanh chóng kiệt sức vì phe bán áp đảo đẩy giá xuống với volume lớn.
  • Sau khi chui lại vào TR, volume thấp cho thấy lực mua đỡ giá yếu ớt.
  • Vị trí LPSY tại biên trên có volume cao thể hiện sự xả hàng mạnh mẽ của phe bán đẩy giá xuống dưới thoát khỏi TR.

Biến thể loại 3: Mẫu hình vai đầu vai

Mô hình phân phối vai đầu vai
Hình 10: Mô hình phân phối vai đầu vai

Head and shoulders (đầu và vai) là mẫu hình đảo chiều phổ biến.

Không chỉ vai đầu vai, hầu hết các hình dạng đảo chiều mà chúng ta đã học trong trading đều có thể giải thích bằng cấu trúc phân phối Wyckoff.

Ví dụ về cặp PYTH/USDT mang hình thái phân phối vai đầu vai:

Mô hình phân phối vai đầu vai PYTH/USD
Hình 11: Mô hình phân phối vai đầu vai PYTH/USD
  • Cột volume cao nhất trong TR là volume bán tại đỉnh.
  • Sau volume bán, không có nhiều lực mua chủ động xuất hiện tại vùng biên dưới.
  • Như mọi khi, thời điểm giao dịch thích hợp nằm ở các sự kiện LPSY.

Với đồ thị của Pyth, chúng ta cũng có thể kẻ một TR thông thường với dạng biến thể này, nhưng sẽ khó nhận biết ở giai đoạn đầu.

Biến thể loại 4: Mô hình nêm tăng giá

Mô hình phân phối nêm tăng
Hình 12: Mô hình phân phối nêm tăng

Giá tăng nằm gọn trong một chiếc nêm tăng giá, được tạo thành bởi hai đường hội tụ (đường cầu xuôi và đường cung đảo ngược).

Cú rũ bỏ tại cuối nêm khiến phe mua kiệt sức và giá nhanh chóng giảm xuống với biên độ và khối lượng lớn.

Ví dụ về hình thái phân phối chiếc nêm tăng cặp ngoại hối AUD/USD:

Biến thể cấu trúc phân phối Wyckoff chiếc nêm tăng
Hình 13: Biến thể cấu trúc phân phối chiếc nêm tăng
  • Giá đang trong xu hướng tăng và nằm gọn trong hai đường hội tụ (hình tam giác hoặc chiếc nêm tăng).
  • Tại các vị trí đỉnh của chiếc nêm, khối lượng bán cao và thiếu vắng lực mua vào.
  • Xuất hiện cầu vào đẩy giá lên vị trí UTAD và nhanh chóng kiệt sức sau đó, thể hiện bởi khối lượng rất nhỏ.
  • Khi phe mua kiệt sức, CO xả nốt lượng hàng còn lại khiến giá giảm mạnh.
  • Trong ví dụ này ta thấy rất khó để mở vị thế sell do sự giảm đột ngột của giá.

Một lần nữa, tôi không khuyến khích bạn đọc cố gắng vẽ các hình dạng biến thể phân phối của Wyckoff.

Các mẫu hình biến thể thực chất được ghép lại từ các cấu trúc phân phối thông thường.

5/5 - (2 votes)


LỰA CHỌN SÀN GIAO DỊCH FOREX UY TÍN

Logo exness
FOREX
logo hfm
FOREX
CHỨNG KHOÁN
CHỨNG KHOÁN
Jack Auth

Mình là Jack - một blogger, youtuber về lĩnh vực giao dịch tài chính. Mình lập ra group Banktraps chuyên về hướng dẫn giao dịch bằng phương pháp SMC | ICT và Wyckoff và là nơi anh em trader trao đổi kiến thức cùng nhau giao dịch.

3 thoughts on “Wyckoff Phần 8: Tổng hợp 7 dạng mẫu hình Phân phối thường gặp”

Leave a Comment

Generic selectors
Exact matches only
Search in title
Search in content
Post Type Selectors
post
page
Filter by Categories
ICT
Nguyên Lý Sóng Elliott
SMC
Tâm lý giao dịch
Trading Hub 4.0
Wyckoff