MMXM là gì?
Market Maker Model (MMXM) trong ICT là một mô hình mô tả về cách giá di chuyển từ PD-Array này sang PD-Array kia, giúp bạn có ý tưởng giao dịch với mức dừng lỗ và chốt lời rõ ràng.
MMXM được chia thành hai dạng là Market Maker Buy & Sell Model (MMBM & MMSM).
Market Maker Buy Model
Market Maker Buy Model (MMBM) – Mô hình mua của nhà tạo lập thị trường: là bản thiết kế cho sự vận động giá từ một PD-Array tăng sang một PD-Array giảm.
Với MMBM, thị trường đi xuống thấp hơn để lên cao hơn. Giá đi từ Discount về Premium (HTF) ở phía buyside.
Bạn cần tìm các yếu tố sau trước khi có mô hình buy ICT MMBM:
- Cấu trúc thị trường trên HTF phải là xu hướng tăng.
- DOL tiếp theo hoặc Daily Bias phải hướng lên.
- Trên khung thời gian thấp hơn phải có một setup bán trước mảng Premium tại HTF.
Market Maker Sell Model
Market Maker Sell Model (MMSM) – Mô hình bán của nhà tạo lập thị trường: là hành vi vận động giá từ một PD-Array giảm sang một PD-Array tăng.
Với MMSM, thị trường đi lên cao hơn để đi xuống thấp hơn. Giá đi từ Discount về Premium (HTF) ở phía sellside.
Các yếu tố hình thành mô hình ICT MMSM:
- Cấu trúc thị trường trên HTF phải là xu hướng giảm.
- DOL tiếp theo hoặc Daily Bias phải hướng xuống.
- Trên LTF phải có một setup mua trước mảng Discount tại HTF.
Các thành phần của MMXM
Chúng ta hãy minh hoạ cấu tạo của MMXM bằng ví dụ về MMBM như hình dưới đây:
MMBM được cấu thành từ các thành phần dưới đây:
Sellside of the curve
Đây là phía bán của đường cong, kéo dài từ BSL xuống dưới DOL tại HTF.
(I) Original Consolidation – Hợp nhất ban đầu
OC là vùng giá hợp nhất hình thành sau khi giá đi lên tương tác với một thanh khoản trong quá khứ tại HTF.
Đây được gọi là vùng giá hợp nhất vì giá dao động trong một phạm vi, có biên trên hình thành từ một đỉnh trong quá khứ, và biên dưới hình thành từ mức giá mà thị trường liên tục kiểm tra lại.
Khi chúng ta đã xác định được một DOL có thể xảy ra trong vùng chiết khấu (Discount), ta sẽ tìm vùng OC.
Hãy tự hỏi trong đầu rằng: Chúng ta có đang ở mức giá mà sẽ hình thành một mảng Premium để đẩy giá xuống tới điểm hút thanh khoản (DOL) đó không?
Sau khi giá displacement phá vỡ xuống khỏi OC, giá có thể quay lại test (hoặc khai thác) OC đó. Đây là cơ hội đầu tiên để tham gia vị thế Short.
Đối với trader theo phương pháp luận Wyckoff, OC được gọi là một trading range phân phối.
(II) Re-distribution – Tái phân phối
Tái phân phối trong MMBM là giai đoạn Smart Money tiếp tục phân phối các lệnh của mình nhằm mở rộng vị thế từ khu vực OC của mình.
Mỗi khi giá giảm đến một khu vực có thanh khoản như FVG/OB trong quá khứ, giá có thể điều chỉnh tăng trở lại. Khi đó Smart Money cần phải phân phối lại tại các vị trí FVG/OB bên sellside.
Thông thường sẽ có từ 1 – 3 vùng Re-distribution xuất hiện trước khi giá đạt đến mục tiêu cuối cùng.
Chúng ta kỳ vọng giai đoạn Re-distribution đầu tiên hình thành trong khoảng 20–30% đường cong bán, và giai đoạn thứ hai vượt quá 50% đường cong bán.
Tái phân phối có thể là một vùng sideway hoặc cũng có thể chỉ là một pullback.
Lưu ý: Càng gần mục tiêu cuối cùng, giá càng chạy nhanh và chúng ta càng có ít cơ hội vào lệnh so với khu vực bên trên.
(III) Engineered Liquidity – Thanh khoản nhân tạo
Engineered liquidity là thanh khoản nhân tạo do Smart Money cố tình tạo ra để thu hút retail vào lệnh, từ đó Smart Money đi ngược lại đám đông.
Trong trường hợp này, Eng liquidity đề cập đến nhịp giảm giá tạo ra các Lower High, đóng vai trò là thanh khoản khi giá di chuyển sang buyside.
Với MMBM, Eng liq là BSL. Còn với MMSM, Eng liq là SSL.
Buyside of the Curve
Khi giá chạm vào PDA tại HTF, chúng ta tìm kiếm điểm Long. Lúc này giá đi theo một đường cong phía bán trở lại OC.
(IV) Smart Money Reversal – Đảo chiều
Smart Money Reversal (SMR) trong ICT đề cập đến sự đảo chiều từ sellside sang buyside khi giá chạm đến mảng PDA của HTF.
Đây chính là một pha bắt đáy trong xu hướng tăng giá tại HTF khi chúng ta kỳ vọng rằng giá sẽ tăng tiếp sau khi điều chỉnh.
Chúng ta sẽ chờ đợi sự đảo chiều tại LTF (MSS) để xác nhận vào lệnh, kết hợp thêm với SMT để tăng winrate.
(V) Re-Accumulation – Tái tích luỹ
Tương tự với tái phân phối thì tái tích luỹ trong MMBM là giai đoạn Smart Money tiếp tục tích luỹ lệnh của mình để giá có thể tiếp tục tăng đến DOL.
Thường sẽ xuất hiện vùng tái tích luỹ thứ hai nếu vùng thứ nhất hình thành trước khi giá đạt tới 50% của đường cong.
Khi đã có Market Structure Shift, nếu giá bật lên cao vượt quá 50% của đường cong, thì rất có thể chỉ có một nhịp pullback duy nhất trước khi giá đi thẳng tới DOL.
Càng về cuối đường cong phía mua, nhịp tăng càng mạnh mẽ và nhanh hơn đường cong phía bán trong MMBM, vì xu hướng chính vốn đã có bias tăng và giá có khả năng vượt qua vùng hợp nhất ban đầu.
Trong khi đó, đường cong phía bán là một nhịp giảm có kiểm soát về một mức mà ta kỳ vọng sẽ quay trở lại trước khi bùng nổ tăng giá.
Tái tích luỹ có thể là một vùng sideway hoặc cũng có thể chỉ là một pullback.
Tương tự với mô hình MMSM, chúng ta cũng có đầy đủ các sự kiện và giai đoạn tương tự như MMBM.
Bên đường cong phía mua chúng ta có các sự kiện OC, Re-accumulation.
Với đường cong phía bán chúng ta có các sự kiện SMR, Re-distribution và giá đi thẳng tới DOL.
Mô hình này để lại dấu vết, chúng ta có thể sử dụng chúng để nắm bắt các thiết lập có xác suất cao.
Cách giao dịch với MMXM
Khi phân tích, ta nhìn vào phía bên trái của đường cong để dự đoán hành động giá ở phía bên phải.
Chúng ta cần chờ đợi giá hoàn thành phía bên trái của đường cong, tức là sau khi thấy giá chạm vào PDA tại HTF và xuất hiện sự đảo chiều mới bắt đầu phân tích cách thức giao dịch.
Entry đầu tiên sẽ là một FVG xảy ra sau MSS trước khi giá phá qua Eng Liquidity đầu tiên. Đó là low risk entry.
Mỗi lần giá tương tác với Engineered Liquidity, ta kỳ vọng giá sẽ điều chỉnh về PDA.
Chúng ta sẽ áp dụng tất cả các PDA đã học để tìm kiếm điểm vào lệnh, ưu tiên Reclaimed OB, OB, OF, FVG.
Càng tiến gần DOL, giá chạy càng nhanh và chúng ta càng có ít cơ hội vào lệnh.
Khung thời gian sử dụng MMXM
Tuỳ thuộc vào độ dài của đường cong, không có khung thời gian nào là hoàn hảo với MMXM. Thông thường chúng ta có thể chuyển về LTF hoặc ITF.
| HTF | ITF | LTF |
| Weekly PDA | D1 MMXM | H4 MMXM |
| Daily PDA | H4 MMXM | H1 MMXM |
| H4 PDA | H1 MMXM | m15 MMXM |
| H1 PDA | m15 MMXM | m5 MMXM |
| m15 PDA | m5 MMXM | m1 MMXM |
MMXM xảy ra ở khung thời gian càng nhỏ thì chúng ta càng có ít điểm chạm vào lệnh.
Ví dụ về MMXM
Mô hình MMBM chỉ số Nas100
Tại khung Weekly/Daily chúng ta thấy US100 đang trong xu hướng tăng.
Một nhịp điều chỉnh về OB khung Daily tại mảng Discount Array.
Chúng ta chuyển về khung H4 để tìm kiếm điểm vào lệnh.
Tại khung H4, nhận thấy đường cong phía mua đã hoàn thành khi giá về PDA tại HTF và xuất hiện MSS.
Chúng ta bắt đầu tìm điểm vào lệnh:
- Low risk entry tại Reclaimed OB sau khi giá đảo chiều tăng.
- Entry thứ hai tại iFVG hợp lưu với Reclaimed OB và OF.
- Entry thứ ba tại OF sau khi giá lấy đi thanh khoản Eng Liquidity.
Theo kinh nghiệm của mình, entry thứ hai là an toàn nhất vì có nhiều vùng hợp lưu, không có tỷ lệ MSS fake như entry đầu tiên, và vùng tích luỹ ở entry thứ hai cũng là một setup AMD rõ ràng.
Mô hình MMSM chỉ số Nas100
Ví dụ mà Banktraps tìm được dưới đây khá thú vị về chỉ số US100:
- Giá sweep liquidity PDH.
- Giá đảo chiều MSS khung H1.
- Sau đó giá giảm về Bullish FVG khung H1 (ERL → IRL).
- Canh short tại FVG H1 nằm ở vùng Premium, trên 00:00.
Đặt take profit tại mức 2.618 Fibonacci. Ta có thể chốt bớt một phần tại PDL trùng với mức 1.619 Fibonacci.














